CHƯƠNG 3
TẠO RA TÀI SẢN
Ta khám phá ra hai điều quan trọng: không tự
mãn với những gì ta đã đạt được và không buông bỏ nỗ lực để đạt được điều tốt
đẹp nhất. Chánh tinh tấn là bước khởi đầu để tiến đến thành công. Chánh tinh
tấn mang lại lợi ích và hạnh phúc cho người cư sĩ.[1]
Tăng Chi Bộ Kinh
Đức Phật cố gắng hướng dẫn các đệ tử tại gia
của Ngài đến sự thành công vật chất, vì đối với người cư sĩ đạt được sự sung
túc là đạt được thành công trong cuộc sống. Dựa trên phương diện này, Đức Phật
đã bàn rộng đến một số đề tài được coi như cần thiết cho việc khởi đầu và phát
triển của bất cứ nỗ lực cầu tiến nào. Sự hướng dẫn của Đức Phật để người cư sĩ
có thể đạt được sự thành công vật chất là một quá trình hoàn chỉnh và hoàn toàn
hữu hiệu. Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày về điều này, nhấn mạnh vào
lời hướng dẫn của Đức Phật để khởi động sự nỗ lực đến thành công.
Sự Chuẩn Bị Nội Tâm
Theo sự quán sát của Đức Phật, sự chuẩn bị nội
tâm là một trong những điều kiện quan trọng nhất đối với bất cứ sự thành công
nào. Do đó Ngài khuyên người cư sĩ cũng phải có một sự chuẩn bị như thế trên
cuộc hành trình tiến tới sự thành đạt –ngụ ý rằng trên tất cả, sự chuẩn bị về
tâm lý là rất cần để đạt được thành công vật chất.
Đầu tiên, Đức Phật khuyên ta nên tháo gở bất
cứ chướng ngại tâm lý nào có thể gây cản trở cho sự tiến bộ của ta. Kế tiếp,
Đức Phật dạy cho ta thấy rõ rằng thái độ đúng đắn sẽ làm tăng thêm sức mạnh cho
sự nỗ lực của ta như thế nào. Hai bước này là những đòi hỏi cơ bản cho sự chuẩn
bị nội tâm.
Tháo Gở Các Chướng Ngại Trong Tâm.
Những giới hạn mà chúng ta tự đặt ra cho mình,
theo Đức Phật, là những rào cản lớn nhất đối với sự tiến bộ về tâm linh hay
trong đời sống thế tục. Những hạn chế này đánh dấu sự thoái hóa của chính khả
năng, sức lực, và tiềm năng của ta. Nguồn gốc làm sản sinh ra tâm lý cho rằng
mình thấp kém này, theo Đức Phật, chính là xã hội.
Các lý thuyết xã hội công khai coi thường các
khả năng của con người có thể làm ảnh hưởng đến tâm và dần dần chế ngự nó. Đức
Phật khuyên hàng đệ tử tại gia không nên chấp vào những quan niệm như thế mà
phải dựa vào chính khả năng của mình để vượt qua các chướng ngại. Để có thể
hiểu rõ hơn thông điệp này, chúng ta chỉ cần xem xét lại lần nữa những quan
điểm xã hội vào thời Đức Phật còn tại thế. Những quan điểm hạ thấp khả năng con
người đã cản trở sự thăng tiến vật chất trong xã hội.
Thí dụ người sinh ra trong giai cấp Shudra,
theo thông lệ xã hội thời đó, không được nỗ lực kinh doanh. Người ta tin rằng
nghề nghiệp đã được định sẵn cho những người thuộc giai cấp Shudra là phục vụ
cho những người ở giai cấp cao hơn. Tương tự, chỉ những người thuộc giai cấp
Bà-la-môn mới được ở cương vị lãnh đạo tinh thần. Ngay chính những người thuộc
giai cấp cai trị cũng không được làm điều đó, vì Brahma, đấng sáng tạo đã dành
riêng công việc đó cho giai cấp Bà-la-môn.
Đức Phật đã phản đối quyết liệt những quan
điểm này của các vị đồng thời với Ngài, những người rao truyền rằng hạnh phúc
và khổ đau của con người đã được định sẵn. Đức Phật lý luận rằng sự chủ tâm và
chánh tinh tấn mới chính là nền tảng căn bản cho sự thành công về vật chất.
Nói tóm lại, Đức Phật đã phân tích, triển khai
và bài bác một cách hợp lý ba quan điểm sau: ý chỉ của Brahma, lý thuyết về
nghiệp của Veda, và định luật tiền định phổ biến:[2]
Ý chỉ của Brahma. Những người cho rằng sự
thành công hay thất bại của con người tùy thuộc vào ý chỉ của Brahma lập luận
rằng những địa vị xã hội cao quý và một số nghề nghiệp được quyết định bởi
Brahma dựa trên cơ chế giai cấp. Do đó, họ khẳng định rằng xã hội cần tránh
thay đổi bất cứ luật lệ xã hội nào.
Lý thuyết về nghiệp của Veda. Những người ủng
hộ lý thuyết về Nghiệp thì quả quyết rằng hạnh phúc hay khổ đau của con người
hoàn toàn được định đoạt bởi những hành động của họ trong quá khứ. Lý thuyết
này cũng phủ nhận các nỗ lực của con người.
Định luật tiền định. Lý thuyết thứ ba khẳng
định rằng không gì có thể thay đổi được các định luật tiền định. Nếu phải xảy
ra, chúng sẽ xảy ra, dầu ta có nỗ lực đến thế nào để thay đổi điều đó. Lý
thuyết này dựa trên quan điểm cứng nhắc rằng mỗi cá nhân –thần thánh hay kẻ hạ
tiện- đều được tái sinh một số lần trước khi hoàn toàn bị tiêu diệt.
Theo Đức Phật, tất cả ba quan điểm trên đều là
những lý thuyết cực đoan, phủ nhận ý chí và sự nỗ lực của con người để thành
công.[3] Lập luận của Đức Phật rất mạnh mẽ và hợp lý. Ngài cho rằng các lý
thuyết gia ủng hộ những quan điểm như thế khó có những tiến bộ tâm linh nơi
chính bản thân họ –vì suy cho cùng, làm sao mà thiền định và các phương pháp tu
thích hợp có thể thanh tịnh hóa được họ, nếu sự nỗ lực, tinh tấn không có giá
trị gì trong pháp tu này? Do đó Ngài đã nói với họ, “Các ông đã phủ nhận nhu
cầu và nỗ lực để thay đổi của con người”.[4]
Đức Phật không chấp nhận những quan điểm cực
đoan này vì một mục đích rõ ràng: tháo gở những hàng rào nội tâm có thể làm cản
trở sự tiến bộ về tinh thần và sự thành công về vật chất đối với các đệ tử của
Ngài. Thông điệp của Ngài gửi đến với hàng đệ tử tại gia là hãy phá vỡ các hầm
hố bên trong, những thứ đã chôn chặt khả năng của họ -và khi làm như thế là họ
đã chuẩn bị cho bản thân một tương lai đầy hứa hẹn.
Tin Vào Chính Khả
Năng Của Mình
Sau khi đã loại trừ những chướng ngại bên
trong, Đức Phật hướng dẫn các đệ tử tại gia của Ngài tiến tới sự tự tin. Đây là
bước kế tiếp trong việc thiết lập nền tảng cho sự thành công trong tương lai.
Trong một thời đại mà ở đó sức mạnh của cá nhân bị vùi dập phũ phàng, Đức Phật
thấy rằng không có yếu tố nào khác hơn là dựa vào chính bản thân để có thể
chuẩn bị cho sự thành công của mỗi cá nhân.
Chính cuộc đời của Đức Phật là một thí dụ minh
chứng cho những điều Ngài dạy chúng ta. Vào thời đó, niềm tin chắc chắn và phổ
biến là chỉ có những người thuộc giai cấp Bà-la-môn mới có thể trở thành những
vị lãnh đạo tâm linh. Nhưng Đức Phật, là người thuộc về giai cấp cai trị, đã
chứng minh được sự sai lầm của quan điểm đó bằng việc trở thành một trong những
vị thầy tâm linh thành công nhất, từng có mặt trên trái đất này. Và Ngài đạt
được sự thành công này với niềm tin không thể lay chuyển vào bản thân. Ngay cả
trước khi đạt được Giác ngộ, Ngài đã bộc bạch về quyết tâm của mình:
Hãy để máu thịt của tôi khô cạn, hãy để tôi
chỉ còn da, mạch máu và xương cốt, dầu vậy tôi cũng sẽ không buông bỏ nỗ lực
cho đến khi tôi đạt được đạo quả cao nhất có thể đạt được bằng khả năng, sự
tinh tấn, và hành động của con người.[5]
Thái độ này làm tăng thêm sức mạnh trong tâm
Đức Phật trong trận chiến cuối cùng với lòng tham ái (lobha), sân (dosa) và si
(moha). Với sự phát triển của trí tuệ siêu việt và tâm từ bi vô lượng, Ngài đạt
được Giác Ngộ, mức độ cao nhất của nội tâm thanh tịnh. Đã ngồi dưới cây bồ đề
một đêm với ý chí mãnh liệt, tiếp tục hành thiền, Ngài đã đứng dậy trong sự
chiến thắng và hài lòng của buổi bình minh.
Ở đây Ngài cũng nhấn mạnh đến một sự chuẩn bị
ban đầu như thế –tăng thêm sức mạnh cho tâm bằng ý chí mãnh liệt- khi nói với
các đệ tử xuất gia của người về những sự thành công tâm linh và khuyến khích
các đệ tử tại gia tiến tới sự thành công vật chất. Đã thanh lọc tâm khỏi sự sợ
hãi và nghi ngờ, chúng ta có thể đi vào công việc thực sự với lòng tự tin mãnh
liệt. “Bạn có thể thành công nếu bạn theo đuổi mục đích của mình với lòng tự
tin”.
Chánh Tinh Tấn
Hai giai đoạn của sự chuẩn bị nội tâm – tháo
gở các chướng ngại nội tâm và làm tăng trưởng lòng tự tin- đã làm nền cho sự
thành công trong cuộc sống đời thường. Giờ, với chánh tinh tấn, chúng ta đã có
một sự bắt đầu hoàn hảo cho bất cứ nỗ lực thành công nào.
Đức Phật xác định hai đặc tính của tinh tấn.
Trước hết, chỉ riêng việc có nỗ lực cũng đã khiến cho sự chuẩn bị nội tâm có ý
nghĩa; sự chuẩn bị nội tâm mà không có nỗ lực thì không đủ để thành công. Đức
Phật chẳng bao giờ tán thán những quan điểm như: “Chỉ cần hình dung, quán tưởng
về một điều gì đó và chờ đợi; bạn sẽ đạt được nó”, mà theo Ngài, chánh tinh tấn
phải đi liền sau chánh tư duy.
Tiếp đến, tinh tấn không chỉ có nghĩa là làm
nhiều. Triết lý của Đức Phật không đơn giản nói rằng: “Hãy cố làm việc và bạn
sẽ đạt được thành công”. Thay vào đó Đức Phật nhấn mạnh vào sự cần thiết của
việc hành động một cách khôn ngoan và đạt được thành công một cách có phương
pháp. Chính quyết định khôn ngoan và hành động khéo léo -chớ không phải chỉ
siêng năng làm việc- mới khiến cho những nỗ lực của người tại gia có ý nghĩa
đích thực.
Đối với những ai có đôi chút lòng sốt sắng,
câu nói sau đây sẽ làm rõ hơn lời khuyên tách bạch của Đức Phật: “Bạn có thể
làm được điều đó, nếu bạn có chánh tinh tấn”.
Bốn Bước Đến Thành Công
Để giúp cho hàng đệ tử tại gia đạt được những
kết quả tốt đẹp nhất, Đức Phật đã giải thích chánh tinh tấn trong bốn bước sau:
Chánh tinh tấn [để thành công trong cuộc sống
thế tục] là gì? Giả dụ như có người sinh sống bằng buôn bán, nuôi gia súc, làm
cung, làm công chức hay bất cứ nghề nghiệp hay công nghiệp nào khác. Người đó
phát triển sự hiểu biết, và khả năng trong nghề nghiệp của mình, có khả năng tổ
chức, thực hiện những công việc cần thiết ở đúng thời điểm và trình bày được
các kế hoạch tìm tòi các phương tiện phát triển tân tiến. Đó là cái mà ta gọi
là chánh tinh tấn.[6]
Lời dạy này của Đức Phật khá xúc tích -có thể
vì các vị tỳ kheo đã tóm tắt một câu nói dài cho dễ nhớ- nhưng nó đã định nghĩa
chánh tinh tấn thật đầy đủ dầu nhìn dưới bất cứ khía cạnh nào. Rõ ràng là sự
quyết định khôn ngoan và hành động khéo léo, kết hợp lại sẽ đưa ta đến thành
công. Bốn bước này rất quan trọng, chúng đáng để ta thảo luận kỹ càng, chi tiết
hơn.
Bước 1: Phát triển sự hiểu biết và khả năng trong nghề
nghiệp hay kinh doanh mà ta chọn lựa.
Có được sự hiểu biết và khả năng trong ngành
nghề hay kinh doanh mà ta lựa chọn là một yếu tố quan trọng trong chánh tinh
tấn. Cụm từ Pali được sử dụng để chỉ điều này là dakkho alam katum, có nghĩa là
“sự phát triển các khả năng, tài nghệ cần thiết cho công việc”. Dakkho bao gồm
cả sự hiểu biết lẫn khả năng. Các đặc tính này giúp ta vững chải trong mọi lãnh
vực nghề nghiệp hay kinh doanh của mình. Nhờ đó, người cư sĩ biết làm sao để
hoàn thiện bất cứ công việc gì họ đảm nhiệm. Thí dụ, người buôn bán, sẽ thấu
đáo thị trường bản sĩ và những lợi nhuận khi bán lại, do đó trở thành khéo léo
trong việc mua vá bán.[7] Nói chung, việc có được khả năng và một sự hiểu biết
đáng kể trong lãnh vực mà ta quan tâm là điều thiết yếu để thành đạt một cách
chân chính.
Quá trình phát triển này cần phải được cha mẹ
khơi gợi khi dạy dỗ con cái lúc ấu thơ. Trong kinh Sigalovada, Đức Phật nhắc
nhở cha mẹ cần phải có trách nhiệm ban đầu trong việc hướng dẫn con cái đến một
nghề nghiệp thích hợp.[8] Nhờ đó, khi bước vào tuổi trưởng thành, chúng sẽ biết
có bổn phận phải trau dồi thêm sự hiểu biết và khả năng của mình.
Trong thời đại này, việc giáo dục, đào tạo các
ngành nghề, và các nghiên cứu, học thuyết về kinh doanh, thương mại, đều là
những điều kiện cần thiết trong việc trau dồi kiến thức và phát triển khả năng
nghề nghiệp. Tất cả chúng ta đều biết rất rõ rằng để thành công trong thế giới
đầy cạnh tranh này tùy thuộc rất nhiều vào khả năng, và trình độ chuyên môn của
chúng ta. Những ai muốn nắm giữ các vị trí quan trọng trong guồng nhân lực tân
tiến phải có tri thức và khả năng vượt bực, nhờ đó họ thăng tiến mau lẹ và ổn
định trong việc kinh doanh. Điều này hỗ trợ quan điểm của Đức Phật cho rằng
việc giáo dục và phát triển khả năng là thiết yếu đối với những ai muốn đạt
được thành công.
Ngành Tâm lý học ngày nay đánh giá mức độ tiến
bộ này như là “giai đoạn tự khẳng định bản thân” trong quá trình phát triển khả
năng. Trong bất cứ xã hội nào, đa số chỉ có được sự hiểu biết và khả năng cơ
bản trong ngành nghề của họ. Tuy nhiên có một số ít người sẽ vượt lên trên để
phát triển những hiểu biết và khả năng đặc biệt. Đức Phật muốn các đệ tử tại
gia của Ngài khẳng định được bản thân trong nghề nghiệp của họ. Vì thế Ngài kết
luận rằng sự hiểu biết và khả năng vượt trội không thể thiếu trong giai đoạn
bắt đầu tiến tới sự thành công vật chất.
Bước 2: Khéo Tổ Chức Công Việc Kinh Doanh.
Khả năng tổ chức là một đòi hỏi quan trọng
khác đối với những ai muốn thăng tiến trong bất cứ lãnh vực nào. Đức Phật luôn
nhấn mạnh đến sự quan trọng của việc tổ chức công việc kinh doanh của một
người. Trong kinh Mangala, Đức Phật dạy rằng “Biết tổ chức công việc, biết kinh
doanh là một ân sủng đối với người thế tục”[9]. Đức Phật dùng cụm từ Pali
dakkho alam sanvi-dhatum, “trở nên thực sự khéo léo trong việc tổ chức”, để nói
về khả năng tổ chức.
Dĩ nhiên, khả năng tổ chức là một đề tài lớn.
Trong giáo lý của Đức Phật, khả năng này bao gồm cả tính tự tổ chức nơi bản
thân và sự tổ chức các công việc liên quan –và khả năng này cần thiết cho lúc
khởi đầu công việc cũng như duy trì nó xuyên suốt các công đoạn để có kết quả
tốt đẹp. Ở đây chúng ta sẽ bàn kỹ đến những khả năng đặc biệt quan trọng trong
giai đoạn khởi đầu của một dự án trọng điểm, biết rằng các khả năng này cũng có
thể được áp dụng ở những giai đoạn khác của công việc và sự kinh doanh.
Chính cuộc đời của Đức Phật là một chứng cứ
hùng hồn cho điều mà Ngài muốn nói về khả năng tổ chức. Sau khi đạt được mức độ
thanh tịnh nội tâm cao độ nhất, Ngài đã phát động một trong những dự án nhân
đạo thành công nhất từng được ghi nhận trong lịch sử, bao gồm một chương trình
lớn, ảnh hưởng đến cách suy nghĩ và những biến đổi của xã hội. Để đạt được mục
đích này, một trong những bước đầu tiên Đức Phật tiến hành là việc tổ chức.
Khởi đầu Đức Phật tự tổ chức, lo liệu cho bản
thân. Công việc thường nhật của Ngài thể hiện rõ điều này: chúng được chia
thành năm thời khóa[10]: đầu tiên là công phu sáng sớm là thời khóa mà Đức Phật
dùng để tự hành thiền. Sau đó Ngài dành thời gian trong buổi sáng để thăm viếng
những ai cần sự gíup đỡ của Ngài. Vào thời khóa buổi chiều, Ngài dạy dỗ các đệ
tử xuất gia và bất cứ đệ tử cư sĩ nào đến thăm viếng Ngài. Hai thời khóa ban
đêm được dùng để hướng dẫn các đệ tử xuất gia hành thiền và dành để thảo luận
những đề tài Phật Pháp thâm sâu. Bằng phương cách có hệ thống này, Đức Phật đã
tổ chức, xếp đặt một cuộc sống đầy năng động.
Đức Phật cũng biểu lộ những khả năng siêu việt
trong việc quản lý, tổ chức cộng đồng (tăng đoàn) mới thành lập của Ngài. Ngài
là một nhà cải cách xã hội đầu tiên có thể tạo ra sự ổn định có hệ thống như
thế đối với sự biến chuyển xã hội này. Đầu tiên, Đức Phật chỉ định ngài Xá Lợi
Phất và ngài Mục Kiền Liên, hai vị đệ tử xuất gia lỗi lạc nhất, làm những người
lãnh đạo chánh. Sau đó Ngài ban danh hiệu cho tám mươi vị tỳ kheo và chỉ định
họ vào các vị trí lãnh đạo dựa trên sự hiểu biết và khả năng trong lãnh vực mà
họ thích hợp. Bằng sự lãnh đạo của mình, Đức Phật đã thể hiện cho ta thấy một
sự nỗ lực có hệ thống sẽ mang đến thành công mỹ mãn như thế nào.
Khi Đức Phật giáo huấn hàng đệ tử tại gia,
Ngài đặc biệt chú tâm đến việc tổ chức, quản lý nguồn nhân lực. Ngài nhấn mạnh
rằng những người có khả năng cần được giao nhiệm vụ của người lãnh đạo. Đức
Phật cảnh báo: “Trao quyền lãnh đạo cho một người (nữ hay nam) chỉ biết làm
theo thói quen và lãng phí tài sản sẽ đưa đến sự sụp đổ”.[11] Như đã nói trong
chương trước, người lãnh đạo cần giao cho công nhân những công việc và bổn phận
thích hợp với khả năng và trình độ của họ. Thêm nữa, giới chủ nhân cần phải
dành cho công nhân của mình những quyền lợi, như được nghỉ phép, và lương bổng
đầy đủ.
Cách làm này cũng đóng góp vào sự thành công
của công việc kinh doanh theo cách khác. Khi được đối xử tốt như thế, người làm
công phát sinh lòng yêu mến đối với chủ nhân. Do đó họ làm hết khả năng. “Tận
tụy với công việc, tránh làm những điều xấu như là ăn cắp, và biết ơn chủ
nhân”, là một số kết quả tích cực có thể có được từ những người làm công hài
lòng với công việc của mình.[12] Những người làm công này chắc chắn sẽ đóng góp
vào sự thành công của bất cứ ngành nghề kinh doanh nào.
Đức Phật cũng nói về việc tổ chức của những
người buôn bán nhỏ như việc sản xuất quần áo làm bằng vải sợi, bằng len ở nhà,
một ngành kinh doanh rất phổ biến thời đó. Ngài coi công việc kinh doanh nhỏ
này như là công việc trong gia đình, ở đó cả vợ và chồng cần phải chia sẻ trách
nhiệm. Một điều thú vị là Đức Phật dạy rằng người vợ cần phải giữ vai trò tổ
chức, quản lý các công việc kinh doanh gia đình như thế.[13] Điều này cho ta
thấy Đức Phật rất coi trọng khả năng và sức mạnh trí tuệ của người phụ nữ.
Tóm lại, Đức Phật khuyên hàng đệ tử tại gia
cầu tiến của Ngài cần hành động có hệ thống, có tổ chức để đạt được mục đích
của họ; và Ngài đã dành cho họ những lời dạy vô giá về cách làm thế nào để sắp
xếp, tổ chức công việc riêng của họ và công việc kinh doanh. Những lời hướng
dẫn này được chứng mình trong cuộc đời của Đức Phật và trong giáo pháp của
Ngài; và sự tổ chức, sắp xếp công việc riêng và các hoạt động của Ngài một cách
gián tiếp đã khiến Ngài trở thành một biểu tượng để ta noi theo.
Bước 3: Hoàn Thành Việc Cần Làm Đúng Lúc.
Hành động đúng thời, đúng lúc, theo Đức Phật,
là một trong những yếu tố quan trọng nhất để thành công trong cuộc sống thế
tục. Dĩ nhiên là yếu tố này liên quan đến sự tổ chức, sắp xếp. Tuy nhiên, hành
động đúng lúc, đúng thời được nói riêng ở đây, vì sự quan trọng tột cùng của nó
trong bất cứ nỗ lực nào. Trong lần thuyết giáo với vua Kosala, Đức Phật đã nhắc
nhở rằng việc biết đúng thời điểm (timing) là yếu tố quan trọng nhất cho sự
thành công vật chất:
Yếu tố quan trọng nhất đối với sự thành công
của con người là hành động đúng thời, đúng lúc. Dấu chân voi có thể che lấp dấu
chân của bất cứ con vật biết đi nào khác. Tương tự, khi nói về mức độ quan
trọng, hành động đúng thời, đúng lúc nổi bật lên trên tất cả mọi hành động
khác.[14]
Đức Phật cảnh báo rằng nếu không hành động
đúng lúc, ta cũng sẽ “không tạo được tài sản mới, và những gì ta đã tích lũy
được chẳng bao lâu sẽ vơi dần hết đi”.[15]
Để trình bày yếu tố vô cùng quan trọng này đối
với sự thành công, Đức Phật đã sử dụng những thuật ngữ như là analasa và
appamada. Tuy nhiên, các từ ngữ dịch thuật hiện tại không thể chuyên chở hết
những ý nghĩa rộng rãi của các từ ngữ Pali nguyên thủy này. Analasa thường được
dịch là “không lười biếng”, trong khi appamada là “chú tâm”, hay “siêng năng”.
Các từ ngữ dịch thuật này có thể được chấp nhận một cách tương đối, nhằm đơn
giản nói rằng sự cố gắng làm việc, cũng là một phương cách để thành công. Tuy nhiên,
Đức Phật sử dụng chúng với hàm ý sâu xa hơn: Chúng nhấn mạnh đến sự quan trọng
của hành động đúng thời, đúng lúc. “Hành động” ở đây có thể là một công việc
nặng nhọc, cả về thể chất và tinh thấn, hoặc (hành động) có thể chỉ là một
quyết định hay một giai đoạn mà ta cần phải có đôi phút đắn đo.
Dựa trên thực tế, Đức Phật đưa ra những chứng
cứ cho ta thấy có những người lười biếng trốn tránh và trì hoãn công việc, rồi
lại đổ thừa cho thời tiết, kêu đói, kêu no, hay nói rằng quá sớm, quá trễ để
không làm việc.[16] Những thí dụ như thế cho ta thấy rằng phản nghĩa của
analasa là sự trì trệ, lơ đãng, lè phè, bỏ bê công việc, một thói quen nguy
hiểm mà chắc chắn rằng nó sẽ làm thui chột nỗ lực để thành công của con người.
Do đó, analasa ám chỉ việc sử dụng năng lượng vật lý đúng thời, đúng lúc.
Trong cuộc đối thoại với vua Kosala, Đức Phật
dùng thuật ngữ appamada để ngụ ý “hành động đúng thời”.[17] Ngài nói: “Nếu
trong cuộc sống, ta luôn hành động đúng mà không trì trệ, là ta biết tự bảo vệ,
tự cứu bản thân, cũng như cứu các gia cầm, và tài sản của ta”.[18]
Thêm nữa, Đức Phật cũng nói rằng những hành
động đúng thời, đúng lúc của vua Kosala sẽ khích lệ các cộng sự và người hầu
của nhà vua làm tròn bổn phận của họ đúng thời, đúng lúc.
Nói chung, theo Đức Phật, những hành động được
cân nhắc đúng thời, đúng lúc, sẽ khiến cho các nỗ lực để thành công của người
cư sĩ được đầy ý nghĩa. Không biết quyết định hay hành động đúng thời, đúng lúc
khi cố gắng tạo ra tài sản, thì người đó cũng giống như là “một con diệc (heron)
lã sức cạnh một hồ nước cạn khô”.[19]
Bước 4: Khám Phá Các Phương Tiện Phát Triển Có Chiến
Lược.
Theo Đức Phật, người cư sĩ còn cần thêm một
bước nữa để đến được thành công vật chất, đó là sự tìm kiếm, khám phá ra các
phương tiện phát triển có chiến lược. Đây có thể là một trong những phương cách
mới mẻ và hữu hiệu nhất để đi đến thành công của một cá nhân. Nói tóm lại, muốn
thành công ta cần có tư duy tiến bộ trong nghề nghiệp, trong những ngành kinh
doanh và áp dụng các phương pháp mới này cho sự tiến bộ của tất cả mọi thứ nói
chung.
Cụm từ Pali là upaya vimamsa. Upaya có nghĩa
là “một phương cách có chiến lược”, hay cụ thể hơn, “sự suy nghĩ đột phá” để
đối nghịch lại với những phương cách thông thường được chấp nhận khi thử nghiệm
một điều gì đó. Vimamsa có một số ý nghĩa, như là, “quán sát” và “thử nghiệm”.
Ghép chung hai từ ngữ này để ám chỉ đến một phương cách để thành công trong
cuộc sống thế tục, upaya vimamsa có nghĩa là “sự khám phá có chiến lược về các
phương tiện tiến bộ mới trong ngành nghề và lãnh vực kinh doanh” -một phương
cách đáng được gọi là sự “phát minh” (innovation).
Đức Phật cũng biết về những phát triển mới
trong xã hội của Ngài, đặc biệt là trong lãnh vực thương mại, trao đổi. Như đã
nói trong chương I, thế kỷ thứ VI trước công nguyên, là thời đại khởi đầu của
ngành kinh doanh ở Ấn Độ, cùng với những phát minh mới. Hàng trăm xe mã từ các
tiểu bang Magadha và Kosala lấy hàng hóa đến Gandhara để được vận chuyển đến
các hòn đảo Hy Lạp. Hàng hóa cũng được mang đến hải cảng Barygaza, ở bờ biến
phía tây Ấn Độ, để được chuyển tới thế giới phương Tây xuyên qua biển Đỏ. Các
chiến lược mới được áp dụng trong tất cả các cuộc hành trình này, để bảo vệ,
vận chuyển, bán buôn, và trao đổi hàng hóa.
Thí dụ, vị đại thí chủ của Đức Phật, ngài
Anathapindika, một đại thương gia ở Savatthi, đã thành lập một hội thương
nghiệp để thu mua và xuất hàng hóa đến phương Tây. Upali, một vị thí chủ khác
của Đức Phật, đã bắt đầu hệ thống ngân hàng đầu tiên. Sự ý thức của Đức Phật về
những phát triển mới này trong ngành thương mại, trao đổi có thể đã khiến Đức
Phật khuyến khích hàng đệ tử tại gia áp dụng các phương pháp mới cho sự thành
công vật chất của họ.
Dầu với lý do gì, khi Đức Phật nói về upaya
vimamsa, là Ngài đã ban cho các đệ tử tại gia của Ngài một lời khuyên vô giá:
“Hãy phát minh các tư duy và chiến lược mới để lèo lái cuộc hành trình của bạn
đến thành công”. Bản thân Đức Phật cũng thực hành lý thuyết này khi Ngài tạo
dựng, thiết lập một cộng đồng mới (tăng đoàn) trong một xã hội truyền thống
cứng ngắt. Và, dĩ nhiên là Ngài đã đạt được những thành công khó ngờ bằng chính
những nỗ lực của Ngài.
TÓM TẮT
Đức Phật đã dành những lời khuyên hữu ích để
hướng dẫn hàng đệ tử tại gia về những nỗ lực khởi đầu để thành công. Trước hết,
Đức Phật hướng dẫn việc rèn luyện tâm trí, để tâm họ được mạnh mẽ hơn. Kế đến,
Đức Phật hướng dẫn sự nỗ lực của họ. Ngài đưa ra những lời khuyên hữu ích, thực
dụng khiến chúng thực sự có ý nghĩa đối với người cư sĩ tại gia.
Đức Phật không khuyến khích cộng đồng cư sĩ
của Ngài chờ đợi một vận may bất ngờ, một biến cố đột ngột giống như trúng số
trong thời đại này, mà Ngài cũng không chấp nhận việc tạo ra của cải một cách
nhanh chóng và dễ dàng bằng bất cứ phương tiện nào. Thay vào đó, Ngài giúp các
đệ tử của mình hành động có phương pháp, có hệ thống và tự khẳng định bản thân
trong cuộc sống “giống như những con kiến xây tạo nên đồi kiến”[20] Tóm lại,
theo Đức Phật, các kiến thức mới mẻ, sự phát triển kỹ năng, sự tổ chức, việc
hành động đúng thời, đúng lúc và những phương pháp mới, sẽ tạo thành nỗ lực
chân chánh để thành công của người cư sĩ.
[1] Câu trích từ: Tăng Chi Bộ Kinh II :
Sotapatti Samyutta: Kinh Upannasa và Tăng Chi Bộ Kinh VIII: Phẩm Gotami: Kinh
Vyagghapajja. Câu trích này từ hai nguồn như đã dẫn ở trên. Phần đầu của câu
trích là từ Kinh Upannasa. Nói về sự chứng ngộ của mình, Đức Phật đã nói câu
này để nhấn mạnh nguồn động lực để chứng ngộ. Thuật ngữ Pali nguyên thủy
asantutthita kusalesu dhammesu đã được dịch là ‘không tự mãn với những gì ta đã
đạt được”. Cụm từ Kusalesu dhammesu khó dịch thẳng được. Trong đoạn này, cụm từ
hàm ý sự chứng ngộ trong sự phát triển nội tâm của Đức Phật, không kể sự chứng
ngộ cuối cùng của Giác Ngộ.
[2] Tăng Chi Bộ III: Phẩm Maha: Kinh
Titthayatana
[3] Như Trên
[4] Như Trên
[5] Tăng Chi Bộ Kinh II: Vassupanayika
: Kinh Uposatha
[6] Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikaya
VIII: Phẩm Gotami: Kinh Vyagghapajja
[7] Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikaya
III: Phẩm Rathakara: Kinh Dutiya Papanika
[8] Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya III):
31, 461-469
[9] Kinh Nipata: Phẩm Culla: Kinh
Mangala
[10] Sumangala Vilasimi: Brahmajala
Sutta Vannana
[11] Kinh Nipata: Phẩm Uraga: Kinh
Parabhava
[12] Trường Bộ Kinh III: 31: Kinh
Sigalovada; 461-469
[13] Tăng Chi Bộ Kinh VIII: Phẩm
Uposatha: Kinh Anuruddha Manapakayika
[14] Tương Ưng Bộ Kinh I: Kosala
Samyutta: Kinh Appamada; 179-180
[15] Trường Bộ Kinh III: 31: Kinh
Sigalovada; 461-469
[16] Như trên
[17] Tương Ưng Bộ Kinh I: Kosala
Smyutta: Kinh Kalyanamitta; 180-182
[18] Như trên
[19] Kinh Pháp Cú: Kệ 155
Nhận xét
Đăng nhận xét