CHƯƠNG 10
QUAN ĐIỂM CỦA ĐỨC PHẬT VỀ SỰ QUYẾT ĐỊNH
Ta không thấy một pháp nào khác hơn là
sự có mặt của tà kiến, làm cản trở sự phát sinh của pháp thiện và làm các pháp
thiện đã sanh trong tâm đi đến lụn bại. Ta không thấy pháp nào khác hơn là sự
có mặt của chánh kiến, làm sanh khởi các pháp thiện, và làm các pháp thiện đã
sanh khởi trong tâm đi đến tăng trưởng, quảng đại.[1]
Tăng
Chi Bộ Kinh
Việc đi đến một quyết định đã được thảo luận
rộng rãi trong giáo lý của Đức Phật đối với hàng đệ tử tại gia. Ngài thường nói
đến sự tai hại của việc ra quyết định sai và đưa ra các nguyên tắc giúp chúng
ta có những quyết định khôn ngoan. Nhưng để đi đến được những quyết định hợp
lý, Đức Phật dạy ta phải loại trừ cách lý luận sai lạc –có thể nói là sự diệt
trừ những con vi-rút nội tâm.
NHỮNG QUAN ĐIỂM KHÁC
NHAU VỀ SỰ QUYẾT ĐỊNH
Trước khi nói đến quan điểm của Đức Phật về sự
ra quyết định, trước tiên chúng ta cần xem xét các quan điểm khác biệt của
những vị đồng thời với Đức Phật. Một đằng, các vị cổ súy cho truyền thống bác
bỏ quyền được quyết định của cá nhân. Họ cho rằng truyền thống, quyền lực của
chư thiên, kinh điển, và các vị thầy với quyền lực siêu nhiên, đã quyết định
cho con người nói chung, do đó, xã hội phải chấp nhận những quyết định này như
là những sự thật không thể chối cãi.
Thí dụ, thành viên của giai cấp quý tộc phải
là những người cai trị hay các vị tướng lãnh, chứ không bao giờ được là các vị
thầy tâm linh. Người ta cho rằng các vị thần thánh đầy quyền lực và truyền
thống đã giao các nhiệm vụ này cho giai cấp quý tộc, và không ai được quyền
chống đối họ. Theo quan điểm truyền thống này, cá nhân không có sự lựa chọn nào
khác hơn là tuân theo các quyết định đã dành cho họ.
Trái lại, các nhà duy vật bác bỏ những quan
niệm theo truyền thống này. Họ khẳng định rằng quyền lợi riêng của cá nhân cần
được xem là yếu tố quan trọng trong việc quyết định. Họ lý luận rằng nếu một
quyết định đem đến hạnh phúc cho cá nhân, thì cá nhân đó không nên do dự gì mà
không đi đến quyết định –không cần biết đến những hậu quả tai hại mà nó có thể
mang đến cho người khác. Thí dụ, họ cổ xúy người ta mượn nợ để hưởng thụ cuộc
sống; vì theo họ, chết là kết thúc cuối cùng, nên sự thỏa mãn cá nhân cần được
xem là mục đích chánh yếu trong cuộc đời. Và họ đã sử dụng các lý thuyết suy
diễn và logic để củng cố quan điểm của họ về việc xem quyền lợi riêng của cá
nhân là căn bản cho việc quyết định. Đức Phật bác bỏ cả hai quan điểm: sự chối
bỏ quyền quyết định của cá nhân của các nhà theo truyền thống và sự quá đề cao
quyền lợi cá nhân, xem đó là căn bản của việc ra quyết định của các nhà duy
vật. Thay vào đó Đức Phật đã giới thiệu cho ta những nguyên tắc mới trong việc
quyết định, bao gồm sự hợp lý (suy luận kỹ càng), tính nhân văn (sự có mặt của
những tư tưởng thiện) và tính thực dụng (những ích lợi thực tế).
Dầu Đức Phật sẵn sàng chấp nhận quyền và tự do
của một cá nhân trong việc quyết định, Ngài khẳng định rằng các quyền lợi và tự
do đó cần được sử dụng một cách đúng đắn. Hơn thế nữa, Đức Phật dạy rằng trước
khi đi đến quyết định gì, chúng ta cần phải cân nhắc để không có suy nghĩ sai
lầm gì có thể ảnh hưởng đến sự phán đoán của ta.
SUY LUẬN SAI, QUYẾT
ĐỊNH LẦM
Từ ngữ moba (ảo tưởng), theo nghĩa rộng, gợi ý
đến sự có mặt của những lập luận sai lạc trong lý luận. Sai lầm này làm tâm trí
ta u tối, không thể nhìn thấy sự thật, khiến cho quyết định của ta trở nên vô
lý và thiển cận. Để có thể phán đoán một cách khôn ngoan, trước tiên ta phải ý
thức rằng moba là mối đe dọa cho sự ra quyết định đúng đắn.
Một số kinh –Kalama, Bhaddiya, Canki, vân vân-
mô tả mười loại sai lầm trong suy luận.
SAI LẦM 1: NHỮNG ĐIỀU ĐƯỢC THÔNG TIN LÀ ĐÚNG
Đức Phật quán sát thấy một sai lầm có thể ảnh
hưởng đến khả năng quyết định đúng đắn của chúng ta là sự tự động coi bất cứ
điều gì được thông tin là đúng. Điều này bao gồm cả việc chúng ta sẵn sàng công
nhận lời đồn đãi, báo cáo, lời được nghe người khác nói, hay bất cứ điều gì có
nguồn gốc khác hơn là kinh nghiệm trực tiếp của bản thân.
Nên nhớ, điều này không có nghĩa là chúng ta
phải bác bỏ mọi thông tin gián tiếp mới có thể có những quyết định hợp lý. Đúng
hơn, nó có nghĩa là chúng ta cần phản ứng với những thông tin đó một cách thận
trọng và với tâm cởi mở. Như Đức Phật đã giải thích: “Những điều được trình bày
lại một cách thuyết phục có thể trống rỗng, vô nghĩa [và] sai trong khi những
gì không được nói ra có thể [thực sự] là đúng, là sự thật”.[2] Nói khác đi,
những thông tin được nói ra có thể đưa đến “kết quả hai chiều”, nghĩa là thông
tin đó có thể đúng hay sai.[3] Do đó, “người trí cần phải quán xét” đến khả
năng rằng thông tin được truyền đạt có thể đúng, có thể sai.[4]
Vì thế, Đức Phật khuyên chúng ta cẩn thận khi
đối mặt với bất cứ hình thức thông tin gián tiếp nào. Đức Phật bảo, một phản
ứng dè dặt chắc chắn sẽ hỗ trợ khả năng đưa ra những quyết định sáng suốt của
chúng ta.
SAI LẦM 2: CÁC GIÁ TRỊ, NIỀM TIN VÀ NGHI THỨC TRUYỀN
THỐNG CHÍNH LÀ CHÂN LÝ
Đức Phật cũng dạy rằng việc chấp nhận truyền
thống như là chân lý, từ đó tuân thủ một cách mù quáng theo uy lực truyền thống
sẽ càng làm yếu đi khả năng có những quyết định hợp lý của ta. Như chúng ta đã
biết, trong kinh Agganna, Đức Phật đã dạy rõ ràng rằng các chân lý truyền thống
thực ra chỉ là sản phẩm của xã hội và lịch sữ. Việc ta phụ thuộc vào các chân
lý truyền thống này khi quyết định đồng nghĩa với việc chối bỏ sự suy luận của
con người, điều kiện tối thiểu cho những quyết định thận trọng.
Đức Phật nhận xét thấy một trong những quyết
định dựa trên sự sai lầm này là việc tiếp tục ngâm vịnh các bài thánh ca để làm
đẹp lòng nhiều vị thần thánh. Chỉ vì những thế hệ cha ông đã ngâm vịnh các bài
ca này, mà thế hệ hiện đại cũng làm như thế, mà không cần xác định các vị thần thánh
đó có hiện hữu hay không. “Khi một đoàn người mù dắt díu nhau đi, thì người đi
đầu không thấy, mà người đi giữa và người đi cuối cùng cũng chẳng thấy gì”.[5]
Tương tự, những kẻ mù quáng tin theo truyền thống cũng sẽ đi luẩn quẩn trong
cái vòng của chân lý truyền thống, không thấy được sự phù phiếm của nó.
Tuy nhiên, nên nhớ là sự khẳng định này không
có nghĩa là Đức Phật bảo các đệ tử của mình hãy hoàn toàn bỏ truyền thống qua
một bên mới có thể quyết định một cách khôn ngoan. Thí dụ, Ngài lưu ý rằng một
số cha mẹ muốn con cái phải tuân theo một số truyền thống gia đình và con cái
phải tôn trọng sự đòi hỏi đó.[6] Tuy nhiên, một số niềm tin và nghi thức truyền
thống đòi hỏi một sự đánh giá dựa trên lý trí trước khi chúng ta có thể dựa vào
chúng để đi đến những quyết định quan trọng. Tóm lại, bài học cơ bản ở đây là
quyền lực truyền thống không phải là chân lý tuyệt đối mà chúng ta phải dựa vào
khi quyết định.
SAI LẦM 3: CHÂN LÝ XÃ HỘI LÀ CHÂN LÝ THỰC SỰ
Vào thời Đức Phật, quyền lực xã hội, bên cạnh quyền
lực truyền thống, cũng là một yếu tố mạnh mẽ khác để một số nhóm xã hội dựa vào
đó mà biện minh cho các quan điểm của họ. Dầu tương quan nhau, nhưng quyền lực
xã hội khác với quyền lực truyền thống. Những người ủng hộ quyền lực xã hội cho
rằng một điều gì đó đúng hay sai, là vì xã hội nói chung công nhận nó là thế.
Họ nhắc đến quyền lực xã hội trong những câu như là “bởi vì họ nói thế”, “bởi
vì đó là chân lý”, hay “bởi vì đó là cách nó phải là”.
Trường hợp của Vasettha, một người Bà-la-môn
trẻ, là thí dụ điển hình của một chân lý xã hội trọng yếu trong thời Đức Phật.
Vasettha đã trở thành đệ tử của Đức Phật, nhưng các huynh đệ Bà-la-môn của ông
không thể chấp nhận sự chuyển đổi của Vasettha. Họ chỉ trích ông rằng, “Một
hành động như thế không thể chấp nhận được; điều đó không hợp lý”.[7] Họ còn
nói thêm rằng một người Bà-la-môn, thuộc tầng lớp xã hội được coi là cao nhất,
không được tu tập dưới sự dìu dắt của Đức Phật, một người thuộc giai cấp cai
trị.[8]
Trong thí dụ này, chân lý theo một số người Bà-la-môn
–rằng người Bà-la-môn không được theo học với người thuộc tầng lớp cai trị- là
một chân lý xã hội, hay một niềm tin được các nhóm xã hội hay toàn thế xã hội
nói chung công nhận. Dĩ nhiên, các chân lý này cũng được truyền thống ủng hộ,
nhưng sự công nhận của xã hội là lý do nồng cốt củng cố cho các quan điểm này.
Đức Phật xác nhận việc tùy thuộc vào quyền lực
xã hội là một trở ngại lớn cho việc có những quyết định khôn ngoan. Để giải
thích cho sự quan tâm của Vasettha, Đức Phật khẳng định rằng khi nghiên cứu,
đánh giá lịch sữ phát triển của tư tưởng Bà-la-môn, ta sẽ khám phá ra sự sai
lầm của quan điểm đó. Ngài khuyên các đệ tử của mình bác bỏ quyền lực xã hội,
mà theo Kacchana[9], một đệ tử của Đức Phật, thì đó “chỉ là âm vang của vũ
trụ”. Cụm từ Pali ma itikiraya –ma, “không chấp nhận hay công nhận”; và
itikiraya, “[bởi vì] do nó đã được nói hay công nhận, như là sự thật” –có nghĩa
là sự chấp nhận hay bài bác của xã hội không thể là một lý do đáng tin cậy để
chấp nhận hay bài bác điều gì đó.
Vậy mà, các chân lý xã hội thường được xem như
là chân lý rốt ráo dầu chúng không phải là như thế. Chân lý xã hội có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến nỗi, trừ phi chúng ta chánh niệm về sức mạnh của chúng, nếu không
chúng sẽ nhanh chóng xâm lấn, chiếm hữu ta. Đức Phật khuyên chúng ta không nên
để mình trở thành nạn nhân của những chân lý xã hội vô lý, để có thể duy trì
khả năng có những quyết định đúng.
SAI LẦM 4: VĂN BẢN LÀ ĐÚNG
Tùy thuộc vào ảnh hưởng của văn bản, kinh điển
là một sai lầm khác nữa mà Đức Phật đã xác định là chướng ngại cho những quyết
định có lý trí. Truyền thống Vệ Đà trong thời Đức Phật đã không ngừng sử dụng
sức ảnh hưởng của kinh sách để củng cố những niềm tin như cơ chế giai cấp là do
thần thánh tạo ra và sự đặt để các bổn phận của từng giai cấp cũng là do thần
thánh. Những người ủng hộ truyền thống Vệ Đà tranh luận rằng xã hội phải chấp
nhận các tư duy này như là những sự thật tuyệt đối đơn giản chỉ vì chúng đã
được công nhận trong các kinh điển. Đức Phật đã thách thức sự suy luận này.
Ngài khẳng định rằng quyết định dựa trên ảnh hưởng của văn bản không thể hỗ trợ
cho trí tuệ của người ra quyết định.
Đức Phật bảo rằng các văn bản, kinh điển được
cho là thiêng liêng là sản phẩm do con người tạo ra. Lời tuyên bố này khiến Đức
Phật trở thành có thể là nhà tư tưởng đầu tiên cho rằng các chân lý tôn giáo là
sản phẩm của xã hội. Như Đức Phật đã giải thích, sau khi các vị Bà-la-môn thời
cổ xưa bắt đầu hành đạo, họ mới chuẩn bị, lập ra các văn bản, kinh thánh.[10]
Do đó, các chân lý được coi là tuyệt đối trong các kinh sách đó cũng có thể
sai. Như vậy các quyết định dựa trên kinh sách cũng có thể sai.
Xã hội vẫn có khuynh hướng sử dụng văn bản,
nhất là các kinh sách, như là một tiêu chuẩn đáng tin cậy để ra quyết định. Kết
quả là người ta có thể đi đến những kết luận không hợp lý, không đáng tin cậy.
Phá thai, đồng tính, và hôn nhân đồng tính là một số đề tài phổ biến cho ta
thấy ảnh hưởng của văn bản, kinh điển nào nổi trội nhất.
Đối với Đức Phật, văn bản, kinh điển, không
bao giờ là yếu tố để biện chứng cho một quan điểm, vì một quyết định chỉ dựa
trên ảnh hưởng sách vở, văn bản không phản ánh trí tuệ của người ra quyết định.
Do đó, việc bác bỏ ảnh hưởng, uy lực của văn bản, kinh sách, là một dấu hiệu rõ
nét để tiến tới những kết luận khôn ngoan.
SAI LẦM 5: LÝ LUẬN HỢP LÝ (LOGIC) BAO GIỜ CŨNG ĐÚNG
Đức Phật dùng từ takka để chỉ loại lý luận
logic mà Ngài muốn đệ tử của mình phải thận trọng về chúng. Việc dựa trên một
số loại lý luận logic có thể làm người ta suy nghĩ sai lạc. Trong các cuộc
tranh luận thời nay, phần lớn các cái bẫy trong lý luận, hay những hình thức lý
luận hời hợt, được gọi là ngụy biện.
Việc dựa vào những sự phân tích logic hấp dẫn
nhưng nông cạn là một hình thức của lý luận logic mà Đức Phật cho là cản trở sự
suy nghĩ rõ ràng. Trong thời Đức Phật, một số nhà tư tưởng đã sử dụng phép loại
suy (so sánh) để củng cố quan điểm của họ.
Sự so sánh dưới đây được Makkhali Gosala, một
nhà tư tưởng nổi tiếng trong thời đó đề ra, là một thí dụ rất thích hợp:
Khi người ta đứng trên đỉnh núi và ném một ống
dây thừng, nhưng giữ lại một đầu dây, dây sẽ tuột hết ống, rồi dừng lại.
Cũng thế, mọi người sẽ tiếp tục được tái sinh
trong một số kiếp sống sau khi chết, rồi sự hiện hữu của họ cũng sẽ dừng
lại.[11]
Mới nghe thoáng qua, pháp cú câu này có vẻ rất logic, nhưng quán sát kỹ
lại ta thấy sự so sánh này hoàn toàn vô nghĩa và trống rỗng. Cơ bản là chúng ta
không thấy có sự liên hệ gì giữa một ống dây, là vật ta có thể nhìn thấy được,
và tái sinh, là một khái niệm siêu hình. Thật ra sự so sánh này chỉ là trò lừa
bịp để củng cố quan điểm cho rằng một cá nhân sẽ tiếp tục được tái sinh trong
một số lần. Chúng ta sẽ không thể có quyết định khôn ngoan nếu ta chấp nhận sự
so sánh logic này như một lẽ đương nhiên.
Để kết luận, dưới đây là các dẫn dụ về một số
loại lý luận logic khác mà Đức Phật nhận thấy là chướng ngại cho sự suy nghĩ
hợp lý:
+ Các vị đạo sĩ rất có giới luật. Họ đã được
chứng ngộ.[12]
+ Tổ tiên của cả hai bên nội và ngoại của
người ấy đều là Bà-la-môn. Do vậy, anh ta phải là người cao quý.[13]
+ Nếu Đức Phật thực hiện được phép lạ, thì Đức
Phật có thể chứng tỏ Ngài là người đã Giác Ngộ.[14]
Trong thí dụ thứ nhất, Đức Phật cho ta thấy
rằng lý do đưa ra không đủ minh chứng cho lập luận đó. Chúng ta cần phải quán
sát các vị đạo sĩ đó kỹ hơn để xem họ có chứng đắc hay chưa.
Trong lập luận thứ hai, lý do đưa ra là vô căn
cứ vì Đức Phật không thấy sự liên hệ gì giữa việc có tổ tiên là người Bà-la-môn
với việc là một người cao quý.
Lý do trong lập luận thứ ba hoàn toàn không liên
quan gì đến lời tuyên bố. Đức Phật không cho rằng có sự liên hệ gì giữa việc
đạt được Giác Ngộ với khả năng tạo ra phép lạ. Bám víu vào các lý luận sai lầm
này chắc chắn là sẽ trở ngại cho sự phán đoán có lý trí của chúng ta.
Dầu vậy, sự cảnh báo này không có nghĩa là Đức
Phật khuyên chúng ta phải bác bỏ tất cả mọi lý luận logic. Ngài chỉ khuyên
chúng ta cẩn trọng. Trong một số trường hợp, Đức Phật cũng sử dụng lý luận
logic để củng cố quan điểm của Ngài, và để phản bác lại những quan điểm đối
nghịch. Tuy nhiên, Đức Phật đã chỉ rõ rằng sự tùy thuộc hoàn toàn vào logic có
thể cản trở chúng ta có được những kết luận hợp lý:
Người sử dụng logic có thể tranh luận một cách
đúng hay sai; cuộc tranh luận có thể sai hay đúng. Do đó, người trí cần quán
chiếu rằng: “Người này sử dụng logic để lập luận. Logic có thể đúng hay sai, nó
có thể là thế này hay thế khác”.[15]
Điều Đức Phật muốn nhấn mạnh xuyên suốt giáo
lý của Ngài là chính kinh nghiệm và tri giác, chứ không phải những sự suy diễn
logic, là chìa khóa đưa ta đến cửa trí tuệ. Chúng ta cần đánh giá các giả định
đầy logic một cách cẩn trọng, dành ưu tiên cho kinh nghiệm bản thân và trí tuệ
của mình để có thể quyết định đúng hay sai trong bất cứ hành động nào.
SAI LẦM 6: LÝ LUẬN DỰA TRÊN SỰ TƯỞNG TƯỢNG VÀ SUY DIỄN
LÀ ĐÚNG
Việc chấp nhận lý luận bắt nguồn từ sự
tưởng tượng và suy diễn có thể đưa chúng ta đến những quyết định thiếu sáng
suốt. Trong thời Đức Phật truyền thống Bà-la-môn có quan điểm sau đây: Những
người thuộc giai cấp Shudra (Thủ-đà-la) phải phục vụ các giai cấp khác vì Phạm
Thiên đã tạo ra người Shudra đầu tiên từ bàn chân của Phạm Thiên. Kết luận rằng
người Shudra phải làm nô lệ chỉ dựa vào một giả thuyết đầy tưởng tượng rằng
người Shudra đầu tiên được sinh ra từ chân của đấng sáng tạo. Trong lý luận
này, người Shudra phải thuộc giai cấp thấp kém vì bàn chân của Phạm Thiên là
nơi không xứng đáng để con người được sinh ra. Đây là một thí dụ hùng hồn của
quan điểm sai lầm này. Do đó, Đức Phật dạy rằng việc chấp nhận quan điểm này
không phải là một sự phán đoán khôn ngoan, vì lý do đưa ra để biện minh cho nó
chỉ là sự suy diễn.
Hai từ ‘tưởng tượng’ và ‘suy diễn’ cần
được bàn rộng thêm ở đây. Chúng ta thấy cơ bản có hai loại lý thuyết trong xã
hội: một dựa vào lý trí và sự hiểu biết; một dựa vào sự suy diễn và trí tưởng
tượng. Thí dụ, lý thuyết về sự Tiến Hóa (Theory of Evolution) được coi là dựa
trên tri thức và lý trí, trong khi lý thuyết về Sự Tạo Dựng (Theory of
Creation) thì dựa vào trí tưởng tượng và suy diễn, hay nói cách khác, vào sức
mạnh của kinh điển. Đức Phật không cho phép các đệ tử tại gia của Ngài tin vào
bất cứ lý thuyết nào, nhất là không được dựa vào các lý thuyết do suy diễn hay
tưởng tượng để quyết định điều gì.
Dầu vậy, Đức Phật khuyên các đệ tử phải
coi trọng các lý thuyết dựa trên lý trí để phán đoán, quyết định. Trong kinh
Agganna[16], khi xét về sự khác biệt trong xã hội loài người, Đức Phật kết luận
rằng xã hội tiến hóa có thể là lý do tạo ra những sự khác biệt đó. Trong cùng
một bản kinh, Đức Phật đã khẳng định rằng chế độ giai cấp là một sản phẩm của
xã hội. Rồi Ngài sử dụng tư duy của xã hội tiến hóa để kết luận rằng tất cả mọi
người thuộc nhiều giai cấp khác nhau cần phải có quyền bình đẳng.
Đức Phật xem lý thuyết dựa trên lý trí
là quan trọng trong việc đưa ra quyết định. Dầu luôn cẩn trọng đối với tất cả
mọi lý thuyết, Đức Phật vẫn coi trọng những lý thuyết hợp lý như là một phương
tiện để giúp ta dễ dàng có những quyết định sáng suốt.
Theo lời Đức Phật, các lý thuyết suy
diễn “bị chính dòng tư tưởng của nó dập tắt”.[17] Các lý thuyết phát sinh chỉ
do động não, sẽ chạy theo khả năng suy diễn của người tạo ra chúng, chứ không
phải là sự hiểu biết chân thực. Do đó, những quyết định dựa trên suy diễn và
tưởng tượng cho thấy là ta thiếu sự cẩn trọng.
SAI LẦM 7: LÝ LUẬN DỰA TRÊN GIẢ THUYẾT LÀ ĐÚNG
Tin vào lý luận dựa trên giả thuyết, theo nhận
xét của Đức Phật, là một trở ngại khác của việc có được những quyết định sáng
suốt. Những người dựa vào loại lý luận này sẽ tìm được những câu trả lời nhanh
chóng và dễ dàng cho những vấn đề phức tạp. Tuy nhiên, những câu trả lời và
giải pháp này thường là không thực dụng, thiếu thực tế, và không hợp lý, do đó
một quyết định dựa vào lý luận có tính cách giả thuyết biểu lộ sự thiếu khôn
ngoan.
Lập luận sau đây của một số người trong xã hội
thời Đức Phật là điển hình cho lý luận dựa trên giả thuyết:
Những kẻ sinh vào tầng lớp xã hội thấp kém
không thể phát triển đủ trí tuệ để có cuộc sống thánh thiện. Do đó, họ không
được phép dự vào đời sống thánh thiện.[18]
Đức Phật đã đặt câu hỏi để làm rõ hơn yếu điểm
của lập luận này: “Dựa vào sức mạnh và quyền lực nào mà họ có thể nói như
thế?”[19] Nói cách khác, câu tuyên bố rằng một số nhóm xã hội không có khả năng
phát triển tâm trí chưa bao giờ được minh chứng hay thử nghiệm. Các vị học giả
dỏm, an vị trên các ghế bọc nhung, có thể chấp nhận loại lý luận này, nhưng nó
thật xa rời chân lý.
Bằng những việc làm của mình, Đức Phật đã
chứng tỏ rằng quyết định dựa trên lý luận sai lầm này thiếu sự suy nghĩ chín
chắn. Thí dụ, Ngài đã thế phát cho rất nhiều người thuộc tầng lớp xã hội thấp
kém, và đã giúp họ chứng đắc trong đời sống tâm linh. Làm như thế, Đức Phật đã
bác bỏ quan điểm rằng chỉ có những người thuộc giai cấp thượng lưu mới có thể
đạt được tiến bộ trong đời sống tâm linh và trở thành những nhà hoạt động xã
hội thành đạt.
Các nhà truyền thống trong xã hội thời Đức
Phật sử dụng từ parisuddha (tẩy trần) để chỉ sự tiến bộ tinh thần. Nhắc đến từ
này, Đức Phật đã nhận xét rằng, cũng giống như người thuộc giai cấp thượng lưu,
bất cứ ai vào trong nhà tắm cũng có thể dùng xà-phòng và bàn chải để “tẩy
trần”. Do vậy, Đức Phật từ chối chấp nhận lý luận dựa trên giả thuyết làm tiêu
chuẩn trong quyết định.
Mặt khác, sự bác bỏ của Đức Phật đối với lý
luận dựa trên giả thuyết, không có nghĩa là tất cả mọi giả thuyết đều không ích
lợi gì cho những quyết định hợp lý. Dĩ nhiên, chúng ta cũng thường đặt ra các
giả thuyết để chuẩn bị cho việc quyết định, nhưng ngay cả một giả thuyết có vẻ
có giá trị cũng có thể trở thành hoàn toàn sai lạc khi chúng ta tiếp tục quán
sát nó. Lời khuyên của Đức Phật là chúng ta cần quán sát các giả thuyết của
mình chặt chẻ để có thể biết được tính hợp lý của chúng.
SAI LẦM 8: CHÚNG TA NÊN CHẤP NHẬN MỘT QUAN ĐIỂM VÌ NÓ
PHÙ HỢP VỚI SỰ SUY NGHĨ CỦA MÌNH
Đức Phật xác định phương cách “vì tôi
thích/không thích điều đó” là một chướng ngại cho sự phán đoán sáng suốt. Ta
thường có khuynh hướng chấp nhận các quan điểm chỉ vì chúng phù hợp với sự suy
nghĩ của bản thân mình. Theo Đức Phật, thái độ đó không thể phản ảnh trí tuệ của
người ra quyết định.
Phản ứng của đạo sĩ Keniya sau khi lắng nghe
Đức Phật là một thí dụ điển hình của việc làm thế nào mà sự sai lầm này có thể
cản trở ta trong việc có những quyết định hợp lý.[20]
Keniya thăm viếng Đức Phật để nghe Pháp, và
Đức Phật đã giảng cho ông nghe về sự Giác Ngộ. Để tỏ lòng ngưỡng mộ, Keniya đã
mời Đức Phật và đệ tử của Ngài đển nhà dùng bữa. Tuy nhiên, Keniya không thừa
nhận lý luận của Đức Phật vì ông (Keniya) đã “vừa lòng với những gì ông đã học
qua các thầy Bà-la-môn”.[21] Nói cách khác, Keniya thừa nhận rằng ông không
muốn bài bác những gì đã được nghe từ các thầy Bà-la-môn, vì ông đã vừa lòng
với chúng, dầu lý luận phản bác của Đức Phật đã làm rõ sự vô lý trong những
điều mà Keniya chấp nhận.
Cần nói rõ là sự sai lầm này không ngừng đưa
chúng ta đến những quyết định thiếu chín chắn trong đời sống hằng ngày. Phần
lớn những phán đoán chỉ dựa trên sự ưa thích của cá nhân rơi vào loại ngụy biện
này. Những người sử dụng loại lý luận sai lầm này có thể củng cố quan điểm của
họ bằng những lý luận sau đây:
Bởi vì tôi thích/không thích điều đó
Bởi vì tôi muốn/không muốn điều đó
Bởi vì tôi nghĩ/không nghĩ như thế
Dĩ nhiên, việc chú trọng đến tự do cá nhân khi
quyết định là một đặc tính nổi bật trong giáo pháp của Đức Phật, nhưng chỉ đơn
thuần dựa vào sở thích cá nhân thì không được. Nói cách khác, Đức Phật khẳng
định rằng, ngoài việc xem xét khuynh hướng thiên về một quyết định nào đó,
chúng ta cũng cần đánh giá các lý do khác nữa. Trong chương kế tiếp chúng ta sẽ
bàn về đề tài này sâu hơn, chi tiết hơn, nhưng ở đây nói tóm lại là nếu quyết
định chỉ dựa vào sở thích cá nhân thì Đức Phật không cho đó là một tiêu chuẩn
cho những quyết định sáng suốt, khôn ngoan.
Khi quán xét kỹ hơn, chúng ta thấy rằng sở
thích cá nhân đối với một số quyết định có liên quan đến chủ nghĩa bản năng, tự
nhiên (naturalism) trong khi sự sẵn sàng để phân tích sâu sắc hơn về những hậu
quả có thể xảy ra của một quyết định lại liên quan đến lý trí. Con người khi
sinh ra đã có một số hành độno bản năng. Tuy nhiên, chỉ hành động theo bản năng
mà không xét đến những hậu quả có thể xảy ra sẽ mang đến bao tai hại. Sử dụng
tư duy “bởi vì tôi thích làm vậy” để biện minh cho một hành động là bản năng tự
nhiên của con người, một khuynh hướng không màng đến hậu quả của bất cứ hành
động cá biệt nào đó. Đến đây có lẽ chúng ta đã hiểu rõ hơn sự nguy hiểm của một
quyết định chỉ được thúc đẩy bởi sở thích cá nhân.
Như Đức Phật đã dạy nhiều lần, lòng khát khao
được thỏa mãn dục vọng một cách bản năng chế ngự mọi hành vi của con người.
Trong điều kiện đó, chúng ta thấy có bao nhiêu quan điểm, tư duy và hoạt động
hấp dẫn đúng theo ý mình thích. Tuy nhiên, Đức Phật đã dạy rằng việc tuân theo
các dục vọng bản năng đó sẽ không giúp ích gì cho trí tuệ của chúng ta, những
người quyết định. Người trí sẽ có đủ kiên nhẫn để đánh giá các yếu tố khác nữa
thay vì chỉ chạy theo các xu hướng nội tại của mình.
SAI LẦM 9: LỜI CỦA NGƯỜI HÙNG BIỆN ĐẦY GIÁ TRỊ
Quan điểm sai lầm này có nghĩa là người có khả
năng trình bày tư duy của mình một cách thiện xảo thì sự suy nghĩ của họ cũng
chinh xác. Đức Phật khuyên các đệ tử của Ngài nên bác bỏ quan điểm này. Ngài
dạy rằng chúng ta không nên để khả năng hùng biện hay sức mạnh của lời nói (sự
khéo nói) ảnh hưởng đến quyết định của mình.
Đức Phật nhận thấy trong xã hội của Ngài nhiều
người cố tình gây ảnh hưởng đến quyết định của đám đông thính giả nhiệt tình.
Những người có tài hùng biện, giỏi thuyết phục này tranh luận về nhiều vấn đề
liên quan đến tôn giáo, xã hội và tâm linh. Họ sử dụng khả năng hùng biện, tài
sử dụng mỹ từ để ảnh hưởng người khác. Họ diễn thuyết lưu loát, bẻ gãy lý luận
của đối phương, tỏ ra rất thuyết phục đối với thính giả của họ. Một số những
người này rất nổi tiếng, dành thắng lợi trong đại đa số các cuộc tranh luận với
đối phương. Thí dụ, Saccaka đã khoe khoang, “Ngay cả một cây trụ vô hồn cũng
phải run sợ khi bị tôi thách thức tranh luận; thì làm sao mà con người không sợ
chứ!”[22]
Cụm từ “khả năng thuyết phục” bao gồm không
chỉ khả năng tranh luận, mà cả những thủ thuật dùng từ. Để có những quyết định
hợp lý, chúng ta không nên để mình trở thành nạn nhân của các thủ đoạn này. Đức
Phật biết rất rõ về những kỷ thuật này nên Ngài khuyên chúng ta tốt hơn nên
thuyết phục người nghe bằng việc nói đúng thời và có sự hiểu biết đúng đắn. Tuy
nhiên, những người giỏi thuyết phục –hay những kẻ khéo lôi kéo người khác, là
tên gọi thích hợp nhất cho họ- có thể lựa chọn thời điểm thích hợp nhất để gài
bẫy chúng ta có những quyết định thiếu sáng suốt. Vì vậy, Đức Phật nhắc nhở
chúng ta nên chánh niệm về những mánh khóe này.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là việc
sử dụng các mỹ từ, cách nói năng khéo léo luôn thất bại trong việc giúp ta có
những quyết định sáng suốt. Đức Phật đã tuyên bố một cách dứt khoát rằng việc
tranh luận hợp lý luôn đưa ta đến những quyết định đúng đắn. Ngài chỉ quan tâm
đến sự lôi kéo, manh động của những kẻ khéo thuyết phục, sử dụng các mánh khóe
trong lời nói để khoe trương họ như là những người đầy đủ khả năng nhất trong
việc dẫn dắt đám đông đi đến những quyết định đúng đắn. Những kẻ có vẻ đầy khả
năng này, nhưng thực sự là những cá nhân bịp bợm dùng tài nói khéo, hoa mỹ của
mình để thuyết phục người nghe –vì vậy người nghe cần phải luôn chánh niệm rằng
chỉ có tài nói khéo (thì) chưa đủ để giúp ta có những quyết định sáng suốt.
SAI LẦM 10: PHẨM CÁCH CÁ NHÂN LÀ MỘT YẾU TỐ ĐÁNG TIN CẬY
ĐỂ QUYẾT ĐỊNH
Đức Phật cũng nhắc nhở chúng ta rằng việc tuân
theo phẩm cách, quyền lực cá nhân có thể làm cản trở khả năng quyết định sáng
suốt của chúng ta. Sai lầm này và sai lầm vừa kể trên liên quan với nhau, nhưng
lại khác nhau ở điểm sau đây. Trong khi người có tài hùng biện muốn lôi kéo
người nghe bằng cách chú trọng đến cách nói năng khéo léo của mình, thì người
sử dụng quyền lực cá nhân lại nhấn mạnh đến những uy lực đứng sau cá tính của
mình. Xã hội có khuynh hướng chấp nhận các quan điểm và nể trọng lời nói của
những người có cá tính, nhân cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, theo Đức Phật, thái độ xã
hội này không hẳn là đúng.
Nhiều yếu tố khác nhau có thể được kết hợp để
đề cao phẩm chất, uy lực cá nhân. Thí dụ, cá tính, tri thức, vị thế xã hội,
kinh nghiệm, khả năng, vẻ bề ngoài, văn bằng, trình độ chuyên môn, vân vân,
đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành một nhân cách mạnh mẽ. Người có
những phẩm chất đó dường như có quyền lực kỳ diệu: họ sở hữu khả năng thuyết
phục rất lớn. Đức Phật đã nhận ra sự nguy hiểm của việc chạy theo sau uy lực cá
nhân. Ngài quan sát thấy có nhiều khả năng rằng những người thực sự có phẩm
chất như thế, cũng như những kẻ tự cho là mình có phẩm cách, có thể đưa xã hội
đến những quyết định sai lầm.
Các thí dụ sau đây cho ta thấy những người có
ảnh hưởng trong xã hội thời Đức Phật đã sử dụng quyền lực cá nhân để gây ảnh
hưởng đến người khác như thế nào:
Phạm Thiên tiết lộ với ta rằng chế độ
giai cấp là sự sáng tạo của thần thánh. Do đó, các ngươi không được chống đối
chế độ này.
Sau khi phát triển tâm bằng những nỗ
lực cá nhân đầy gian khổ, ta nhận ra rằng không thể chuyển đổi nghiệp. Do đó,
các bạn phải chấp nhận số mệnh của mình.
Là đệ tử của một vị thầy nổi tiếng,
người này đã thấu đạt được tất cả mọi tri thức cần có để trở thành một vị thầy.
Vì thế ông ta có khả năng truyền dạy cho bạn phương cách tu tập đúng đắn.
Quyền lực được thừa nhận trong các thí dụ trên
là quyền lực cá nhân: trong thí dụ đầu là ân sủng của thần thánh, trong thí dụ
thứ hai là sự chứng đắc của cá nhân, và trong thí dụ thứ ba là vị thế xã hội và
sự tự hoàn thiện.
Quyền lực thể hiện trong hai thí dụ đầu có thể
khiến ta nghi vần: không ai biết hay có thể xác chứng xem điều được tuyên bố có
thực hay không. Trong thí dụ thứ ba, quyền lực đó có thể đúng hay ít nhất có
thể được xác chứng. Nói chung, tất cả những lời tuyên bố trong các thí dụ đều
dựa trên quyền lực cá nhân, dầu giả dối hay chân thực. Do đó, để có thể quyết
định một cách sáng suốt, người nghe trước hết phải có những câu hỏi như sau:
Quyền lực được tuyên bố có thực không?
Nếu là thực, quyền lực đó có phù hợp
với khả năng của người nói?
Động cơ hành động của người đó có chân
thật hay không?
Chúng ta hẳn biết chuyện Đức Phật đã yêu cầu
Upali - một doanh nhân, người đang rất sẵn sàng để nhận Đức Phật làm vị thầy
tâm linh mới của mình - tìm hiểu thêm về Ngài và giáo lý của Ngài.[23] Sự tìm
hiểu đó sẽ giúp Upali chọn lựa người thầy tâm linh của mình một cách sáng suốt.
Đặt lòng tin vào những người dối trá khi cho rằng họ có khả năng và phẩm cách,
có thể đưa chúng ta đến những quyết định thiếu sáng suốt.
Lời khuyên của Đức Phật không ngụ ý là chúng
ta phải bác bỏ mọi ý nghĩ về quyền lực cá nhân. Trong một số bài giảng, Đức
Phật nhấn mạnh rằng ta chỉ nên dựa trên quyền lực cá nhân sau khi đã có những
sự tìm hiểu thấu đáo, cặn kẻ. Đức Phật cũng nhiều lần khuyên chúng ta nên dựa
vào những người có quyền lực, có hiểu biết trong một số lãnh vực, thay vì tự
quyết định một cách mù mờ. Nhưng trước tiên chúng ta phải chắc chắn rằng quyền
lực, phẩm cách được tuyên bố là chính xác, và rằng những người có quyền lực đó
sở hữu khả năng và ý hướng dẫn dắt người khác đi theo con đường chân chánh.
SỰ KẾT HỢP CỦA LÝ LUẬN
NGỤY BIỆN –VÀ HƠN THẾ NỮA
Đức Phật cũng nhận thấy một số các vị đương
thời với Ngài, cùng lúc sử dụng nhiều phương cách lý luận sai lạc để làm tăng
giá trị lời tuyên bố của họ. Thí dụ, một số các nhà thuộc phái truyền thống sử
dụng kinh điển, quyền lực cá nhân, logic, và lý luận càn bướng để khẳng định
một cách mạnh mẽ rằng họ cao cả hơn các tầng lớp xã hội khác. Trong cuộc đối
thoại với Bharadvaja, một người Bà-la-môn trẻ muốn tìm hiểu về giáo lý của
Ngài, Đức Phật đã phân tích từng loại lý luận ngụy biện và nói: “Trước hết, ông
nói về quyền lực cá nhân, giờ ông lại nói về sức mạnh của kinh điển”.[24] Đức
Phật đã quán xét từng loại ngụy biện để chứng minh rằng chúng có thể khiến ta
lạc lối đến dường nào. Sau đó, Đức Phật đã kết luận:
Đối với người có trí muốn khám phá và bảo tồn
chân lý, thì điều này [việc sử dụng lý luận ngụy biện] không đủ để họ kết luận
rằng đây là chân lý, và những cái khác là giả tạo.[25]
Chúng ta thấy rằng hiện nay nhiều tổ chức xã
hội sử dụng một cách rộng rãi sự kết hợp giữa nhiều phương pháp lý luận ngụy
biện để bổ sung, để làm tăng thêm sức mạnh cho những lời tuyên bố của họ. Dĩ
nhiên, đôi khi họ cũng thành công. Thí dụ, sự khẳng định rằng chúng ta cần phải
tranh đấu để bảo vệ tôn giáo. Uy lực của kinh điển, truyền thống và xã hội là
những yếu tố đã được sử dụng để hỗ trợ cho sự khẳng định này.
Chỉ một loại rượu đủ làm người ta say, thì sự
pha chế nhiều loại còn gây hậu quả tai hại hơn. Tương tự, chỉ một loại lý luận
sai lầm đã có thể ảnh hưởng đến sự phán đoán sáng suốt của ta, thì khi nhiều
loại được kết hợp lại -nếu chúng được chấp nhận vô điều kiện- sẽ làm mê hoặc và
chế ngự tâm trí con người. Chúng ta dùng từ “tẩy não” để chỉ trạng thái tâm của
người đã sa vào bẫy của nhiều hình thức lý luận ngụy biện. Sự thoái hóa tâm
trí, kết quả cuối cùng của việc ta hoàn toàn chạy theo nhiều loại quyền lực, có
thể dồn ta đến việc từ chối có những quyết định độc lập –nói gì đến những quyết
định khôn ngoan!
GIÁC NGỘ CHÂN LÝ
Khi Đức Phật giải thích cho Bharadvaja rằng lý
luận ngụy biện có thể dẫn người ta đến những quyết định sai lầm, thì Bharadvaja
có yêu cầu như sau:
Bạch Thế Tôn, người ta có thể nhận ra chân lý
ở mức độ nào? Điều gì có thể giúp người ta giác ngộ chân lý? Chúng con xin hỏi
Thế Tôn về việc giác ngộ chân lý.[26]
Câu trã lời chi tiết cho câu hỏi này đáng được
coi là một lời hướng dẫn vượt thời gian để giải thoát cá nhân khỏi gánh nặng
của lý luận sai lầm. Nội dung của bản kinh còn được duy trì có thể đã được sắp
xếp lại, nhưng những bước căn bản để đi đến lý luận vững chãi vẫn còn nguyên
vẹn.
Trong bản kinh này, Đức Phật trước hết xác
định việc tự giam mình trong suy nghĩ riêng tư là chướng ngại lớn nhất trong
việc giải thoát bản thân ra khỏi lý luận sai lầm.
Sau đó Đức Phật giới thiệu một số những phương
cách hữu ích để tiến tới sự tự do nội tại. Có lòng ham thích học hỏi, phấn đấu
tìm đến chân lý, lắng nghe, tiếp xúc, thử nghiệm những gì đã học, và đánh giá
các quan điểm, cách thực hành khác nhau là một số các phương cách hỗ tương lẫn
nhau để giúp ta tránh được việc lý luận ngụy biện. Để làm rõ hơn lợi ích của
các phương cách này, chúng cần được bàn kỹ hơn.
Đức Phật luôn thừa nhận khả năng con người
trong việc tự hoàn thiện và khả năng buông bỏ lý luận sai lạc cũng là một phần
trong đó. Tuy nhiên, nếu chúng ta không cởi mở, chỉ dựa vào các lý luận sai
lạc, thì ta khó thể tìm đường thoát ra. Sự quan tâm và cởi mở là hai điều kiện
tiên quyết nhất để có được tự do tư tưởng. Lòng ham muốn ở bên trong sẽ thúc
đẩy ta cố gắng, là bước kế tiếp để tiến bộ. Khác với suy nghĩ của nhiều người,
Đức Phật thực sự cũng nói về những nhu cầu cá nhân và dục vọng bên trong.
Nhu cầu, ước muốn giúp rất nhiều cho sự tinh
tấn. Nếu nhu cầu, ước muốn không phát xuất từ bên trong, ta không muốn nỗ lực.
Nếu ước muốn phát xuất từ bên trong, ta sẽ cố gắng nỗ lực. Do đó, ước muốn rất
hữu ích cho nỗ lực [tìm được chân lý].[27]
Đức Phật khuyên chúng ta biết đến cả một thế giới bao la của tư tưởng,
quan điểm và thực hành như một sự chuẩn bị cho việc dứt bỏ lý luận sai lạc. Một
khi hạt giống của ước muốn đã nẩy mầm, phát triển bên trong, thì tâm tự nhiên
sẽ tìm tòi, quán sát, so sánh, tương phản –và dần dần chọn những yếu tố khôn
ngoan để ra quyết định. Như Đức Phật đã quán sát, việc tìm kiếm, tiếp cận, lắng
nghe, thử nghiệm, và đánh giá nhiều yếu tố khác nhau sẽ chuẩn bị cho chúng ta
có thể chọn lựa các tiêu chuẩn tiến bộ khi quyết định.
Thông điệp mà Đức Phật muốn nhắn gửi cho những
người thích nhiều hình thức lý luận ngụy biện khác nhau, rất lạc quan: Ngài tin
rằng các cá nhân đó có khả năng thoát ra khỏi sự lý luận sai lầm. Thái độ cởi
mở sẽ cho phép ta tiếp cận với nhiều quan điểm khác nhau, và là cách tốt nhất
để thể hiện khả năng lý luận hợp lý. Khi chân trời của ta được mở rộng, chúng
ta sẽ khám phá ra nhiều lý do tốt hơn và sâu sắc hơn để bảo vệ hay bài bác vô
số tư tưởng và hành động.
TÓM TẮT
Đức Phật đã xác định lý luận ngụy biện là một
mối đe dọa lớn đối với việc suy nghĩ sáng suốt. Bị mê mờ bởi nhiều loại ngụy
biện, lý luận sai lầm, phần đông chúng ta không thể có những phán đoán sáng
suốt trong việc quyết định. Đức Phật đã định danh mười loại lý luận sai lầm
luôn khởi lên trong tâm để thui chột trí tuệ khi chúng ta cần quyết định. Mỗi
loại lý luận sai lầm riêng lẻ cũng đã tai hại, vậy mà đôi khi chúng còn được
kết hợp để khiến sự phán đoán của ta thêm rối rắm. Thái độ cởi mở đối với nhiều
quan điểm hay tư duy khác biệt là một bước hữu hiệu để tiến đến sự giải thoát
khỏi những lý luận sai lầm. Lý luận sai lầm sẽ nới lỏng tay trong nội tâm khi
ta tiếp tục quán sát cả thế giới tư tưởng bao la -và dứt khoát từ bỏ các lý
luận sai lầm là cửa ngõ đưa ta đến các quyết định sáng suốt.
[1] Câu trích từ: Tăng Chi Bộ Kinh I:
Ekadhamma Pali: Phẩm Dutiya: 3-4; dựa trên bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh
Châu, Phẩm Chủng Tử, 15-21, NXB Tôn giáo 2005
[2]
Trung Bộ Kinh II: 95: Kinh Canki; 775-785
[3]
Như trên
[4]
Trung Bộ Kinh II: 76: Kinh Sandaka; 618-628
[5]
Trường Bộ Kinh I: 13: Kinh Tevijja; 187-195
[6]
Trường Bộ Kinh III: 31: Kinh Sigalovada; 461-469
[7]
Trường Bộ Kinh III: 27: Kinh Agganna; 407-415
[8]
Như trên
[9]
Trung Bộ Kinh II: 84: Kinh Madhura; 698-703
[10]
Trường Bộ Kinh III: 27: Kinh Agganna: 407-415
[11]
Trường Bộ Kinh I: 2: Kinh Samannaphala; 91-109
[12]
Tương Ưng Bộ Kinh I: Kosala Samyutta: Kinh Sattajatila; 173-174
[13]
Trường Bộ Kinh I: 4: Kinh Sonadanda; 125-132
[14]
Trường Bộ Kinh I: 11: Kinh Kevaddha; 175-180
[15]
Trung Bộ Kinh II: 76: Kinh Sandaka; 618-628
[16]
Trường Bộ Kinh III: 27: 407-415
[17]
Như trên
[18]
Trường Bộ Kinh I: 3: Kinh Ambattha; 111-124
[19]
Như trên
[20]
Trung Bộ Kinh II: 92: Kinh Sela; 755-762
[21]
Như trên
[22]
Trung Bộ Kinh I: 35: Kinh Culasaccaka
[23]
Trung Bộ Kinh II: 56: Kinh Upali; 477-492
[24]
Trung Bộ Kinh II: 95: Kinh Candi; 775-785
[25]
Như trên
[26]
Như trên
Nhận xét
Đăng nhận xét