CHƯƠNG 8
GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN
Khi giao tiếp với tha nhân, chúng ta đặt mình
vào năm hoàn cảnh như sau: Tôi sẽ nói đúng thời; tôi sẽ trình bày dữ kiện; tôi
sẽ nói lời tử tế; tôi sẽ nói vì lợi ích của người nghe; tôi sẽ nói với lòng bi
mẫn.[1]
Xá-lợi-phất - Tăng Chi Bộ Kinh
Giải quyết mâu thuẫn cá nhân đối với Đức Phật
cũng quan trọng như thiết lập những mối quan hệ tốt đẹp. Vì tăng đoàn vừa mới
được thành lập của Ngài bao gồm nam và nữ đệ tử thuộc nhiều thành phần xã hội
khác nhau, nên những sự khác biệt rõ rệt về cá tính có mặt trong cộng đồng đó
và mâu thuẫn cá nhân không thể tránh khỏi lộ diện.
Với cái nhìn xa rộng, Đức Phật đã dành sự hỗ
trợ quý báu trong việc giải quyết và ngăn ngừa những mâu thuẫn cá nhân đó. Dầu
lời dạy của Đức Phật nhắm vào các đệ tử xuất gia, chúng cũng có thể được áp
dụng cho cư sĩ tại gia. Chương này bàn về các phương cách giải quyết mâu thuẫn
của Đức Phật, mà cho đến ngày nay, vẫn còn rất hữu hiệu.
NĂM BƯỚC ĐẾN SỰ GIAO TIẾP THÀNH CÔNG
Một phương cách vô cùng hiệu quả trong việc
giải quyết mâu thuẫn cá nhân đã được Đức Phật đề xuất và ngài Xá Lợi Phất
(Sariputta), vị đại đệ tử của Phật, giải thích ở đây.[2]
Theo phương cách này, có năm khả năng giao
tiếp đem lại bao hiệu quả tích cực. Theo ngài Xá-lợi-phất cảnh báo, không tuân
theo những nguyên tắc này sẽ đem lại bao hậu quả tiêu cực và là nguyên nhân đưa
đến hối tiếc –và người nói, chắc chắn, sẽ gặp phải sự chống đối từ người nghe.
Giờ chúng ta hãy phân tích kỹ năm khả năng giao tiếp mà Đức Phật và ngài
Xá-lợi-phất coi như thiết yếu để giải quyết xung đột trong đời sống hằng ngày.
1:
NÓI ĐÚNG THỜI ĐIỂM
Thời điểm (timing) đóng vai trò quan trọng
trong việc giao tiếp của Đức Phật. Tự xác nhận mình là “người luôn nói đúng
thời”, Ngài nhấn mạnh rằng sự thành công hay thất bại của bất cứ nỗ lực giao
tiếp nào đa phần cũng tùy thuộc vào thời điểm.[3] Thí dụ, không ai có thể “quay
lại bánh xe Pháp của Đức Phật” (phá rối công việc hoằng Pháp), vì “Đức Phật
biết nói đúng thời điểm”.[4] Việc Ngài Xá-lợi-phất bàn rộng thêm về thời điểm
đã lặp lại ý nghĩa này: thời điểm rất quan trọng trong việc giải quyết mâu
thuẫn cá nhân.
Theo chứng cứ đã được ghi lại, Đức Phật là
người đầu tiên nhấn mạnh đến thời điểm như là một yếu tố quan trọng khi phát
biểu. Đó là vào thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch. Protagoras, nhà tư tưởng Hy Lạp
thời tiền Socrate, đã nhắc đến khái niệm này lần đầu tiên trong lịch sữ Tây
phương ở thế kỷ thứ tư trước Tây lịch. Tiếp theo sau ông, Isocrates cũng nói
thời điểm (hay kairos trong tiếng Hy Lạp) là điều kiện quan trọng nhất trong
hùng biện –ít nhất là nửa thể kỷ sau khi truyền thống Phật giáo đã biết đến lợi
ích của sự thực hành này.
Ý nghĩa của Đức Phật về việc “truyền thông
đúng thời điểm” rất bao quát. Điều quan tâm đầu tiên phải kể đến là trạng thái
tinh thần thư giãn của người nghe. Câu chuyện của Đức Phật với Gotami, người
vừa mất đứa con trai duy nhất của mình, cho ta thấy sự quan trọng của yếu tố
này.[5] Gotami đã mang đứa con trai bé bỏng của mình đến nhiều vị lương y hy
vọng rằng họ có thể cứu con bà, nhưng tất cả đều trả lời rằng, đứa bé đã chết
và họ không thể làm gì để giúp nó sống lại. Tuyệt vọng và khổ đau, cuối cùng bà
tìm đến với Đức Phật, người được coi là “vị thầy tài giỏi nhất trong các vị
thầy”, để van xin Ngài cứu con bà. Biết được nỗi bấn loạn trong tâm của Gotami,
Đức Phật quyết định không nói sự thật với bà ngay, mà bảo bà hãy đem về cho
Ngài một bụm tay những hạt mù-tạt lấy từ những gia đình chưa từng có người chết.
Vì Đức Phật biết là bà Gotami sẽ khổ đau, phản kháng nếu biết sự thật, nên Ngài
đã đợi đến đúng thời điểm sẽ cho bà biết về sự thật đau lòng là cái chết không
thể tránh khỏi, nó không chừa một ai, và không thể thay đổi được khi nó đã xảy
ra, bằng cách đó Đức Phật đã giúp làm giảm nỗi khổ đau của bà và giúp bà đạt
được trí tuệ.
Các nhà tâm lý học đã chứng minh rằng những
người đang trong trạng thái khổ đau khó thể lắng nghe. Một học sinh mang phiếu
kết quả học kỳ không được tốt về nhà sẽ rất ương ngạnh khi phải nghe cha mẹ cậu
rầy la, bảo lần sau phải cố gắng tốt hơn. Người chồng hay vợ vừa trở về nhà sau
một cuộc đối đầu với thủ trưởng ở sở làm sẽ cảm thấy sự cằn nhằn của người phối
ngẫu không thể chịu đựng nỗi. Trao đổi với người nghe khi họ ở trong trạng thái
vui vẻ có thể mang đến kết quả tốt hơn.
Sức khỏe của người nghe cũng là một yếu tố cần
quan tâm đến trong thời điểm giao tiếp. Đức Phật đã bảo các đệ tử cung cấp thực
phẩm cho vị khách, dầu đang đói cũng muốn được tiếp kiến Ngài, [6] vì Đức Phật
biết rằng trao đổi với người đang đói sẽ không đem lại hiệu quả. Và trước khi
nói Pháp cho một đệ tử xuất gia, Đức Phật trước hết đã chăm sóc vết thương
ngoài da đau đớn cho người ấy.[7] Rõ ràng là để tinh thần được sảng khoái thì
phải có điều kiện sức khỏe tốt; vì thế “đúng thời điểm” cũng ám chỉ thời điểm
khi thể chất của người nghe không có vấn đề gì.
Mục đích của việc nói đúng thời là để đem lại
hạnh phúc và ích lợi cho cả người nói lẫn người nghe. Chờ đúng thời điểm để
giao tiếp, để truyền thông, không có nghĩa là chờ đợi cơ hội tốt nhất để áp đảo
người nghe. Sự có mặt của động cơ ích kỷ hay lợi dụng chắc chắn là sẽ đối
nghịch lại với lời dạy của Đức Phật. Ngài luôn nhấn mạnh rằng người nói phải
được thúc đẩy bằng tình thương yêu và lòng bi mẫn, chứ không nên vì lợi dụng
thời cơ.
Chọn thời điểm thích hợp nhất để nói là một
khả năng giao tiếp hữu hiệu nhất để giải quyết hay làm giảm thiểu những mâu
thuẫn cá nhân.
2:
SỬ DỤNG DỮ KIỆN
Đức Phật cũng dạy thêm rằng sự kiềm chế không
kết tội sai lầm cũng là một bước khác để cải tiến sự giao tiếp và giảm thiểu
xung đột cá nhân. Ngài Xá-lợi-phất khuyên người nói cần ghi nhớ trong tâm là:
“Tôi sẽ nói về những gì đã xảy ra, không phải về những gì chưa xảy ra”.[8] Khả
năng này bao gồm kiềm chế không phóng đại, tô vẽ thêm lỗi lầm, chỉ trích yếu
điểm của người nghe, hoặc bất cứ hình thức kết tội sai trái nào.
Về mặt tâm lý, chúng ta có thể phóng đại lỗi
lầm hay yếu kém của người nghe để gây chú ý hoặc để trút cơn giận của mình. Thí
dụ, trong nỗ lực làm rõ việc chăm sóc con cho đúng cách, người vợ có thể nói
với chồng, “Bé bị cảm vì anh không đắp chăn cho nó kỹ”. Người chồng có thể trả
treo để trút nỗi tức giận, “Em chỉ nói được những điều ngu ngốc nhất”. Trong
trường hợp này, điều thực sự xảy ra là đứa trẻ bị cảm; còn lý do được nêu ra
chỉ là giả định. Thứ đến, câu nói của người chồng quá khái quát, anh ta kết
luận chỉ dựa trên cảm xúc. Cả hai câu nói đều được khuếch đại. Cả hai người đều
không nói đúng như “những gì đã xảy ra”.
Trong cuộc sống hằng ngày, sự phóng đại được
thể hiện dưới nhiều hình thức. Một người mẹ thấy con gái làm rớt dĩa có thể la
lên, “Con chẳng bao giờ cầm được cái gì trong tay”. Người vợ xem phiếu khám sức
khỏe hằng năm của chồng có thể nói: “Anh không tập thể dục, bởi vậy cholesterol
mới lên cao”. Những câu nói này đều đã được khuếch trương, phóng đại, hoặc kết
luận theo cái nhìn của người nói.
Người ta thường nói theo cách này, vì điều đó
dường như làm người nói cảm thấy dễ chịu –dầu đối với người nghe, dĩ nhiên là
không như thế! Có lẽ là người ta có thể trút được căng thẳng trong lòng bằng
cách tấn công bằng lời nói thẳng vào người đã gây ra căng thẳng cho mình. Tuy
nhiên, việc đó có đem lại kết quả tốt đẹp nào không hay chỉ làm tăng thêm sự
ngang bướng nơi người nghe. Người nghe sẽ coi những lời nói đó là sự kết tội
oan hay một sự sỉ nhục. Cách phản ứng như thế khó thể đóng góp gì vào việc
thiết lập một mối quan hệ lành mạnh nào giữa người nói và người nghe.
Đức Phật khuyên ta chỉ nên trình bày dữ kiện
mà không kèm theo ý kiến riêng của mình. Như thế chúng ta sẽ ở trong vị thế tốt
hơn để giải quyết xung đột một cách êm thắm. Dầu người ta khó chối cãi dữ kiện,
họ thường phản ứng với các giả định như một cách để chống lại khi giải quyết
xung đột. Điều gì xảy ra đã xảy ra. Do đó, vì sự ích lợi của các mối liên hệ,
thì phương cách tốt nhất là có biện pháp ngăn ngừa xung đột xảy ra lần nữa.
Tuy nhiên, Phương cách này không có nghĩa là
chỉ vì điều gì đó là sự thật, là dữ kiện, mà ta phải luôn nói đến nó với người
liên quan. Đức Phật dạy rằng, “Dầu điều gì đó có đúng sự thật, tôi cũng không
nói sự thật khi nó không thích hợp đối với người nghe”.[9] Một số sự thật không
dùng được cho mục đích gì, vì thế nói về chúng cũng vô ích. Tuy nhiên, để giúp
người nghe thay đổi thái độ cho tốt hơn, chúng ta cần tập trung trên dữ kiện,
chứ không phải trên các giả định.
3: DÙNG LỜI NHẸ
NHÀNG
Theo ngài Xá-lợi-phất, dùng lời nhẹ nhàng là
một yếu tố quan trọng khác trong nghệ thuật giao tiếp để giải quyết xung đột cá
nhân. Ngài Xá-lợi-phất cho rằng người nói cần phải có quyết tâm trong việc sử
dụng ngôn ngữ: “Tôi phải dùng lời nói dịu dàng, chứ không phải lời cộc cằn, thô
lỗ”. Kiềm chế không dùng lời nói thô lỗ, thật ra, là một trong tám giới luật
dành cho người Phật tử. Sự nhấn mạnh này làm nổi bật vai trò thiết yếu của lời
nói trong các mối liên hệ hằng ngày của chúng ta.
“Dùng lời nhẹ nhàng”, như được trình bày trong
giáo lý của Đức Phật, cũng chuyển tải một ý nghĩa rộng lớn. Nó bao gồm tất cả
những gì liên hệ đến ngôn ngữ, như là từ ngữ chính xác, câu văn, giọng nói,
cách nói, và dấu nhấn. Các cụm từ được lặp đi lặp lại pharusavaca pativirato
(tránh sử dụng những từ thô lỗ) và piya vaca (những từ dễ nghe) gợi đến chính
sự mềm mại của từ ngữ sử dụng. Câu piyam vada (nói một cách nhẹ nhàng) và
snehena vakkami na parusena (nói một cách lịch sự, không nói một cách cộc cằn)
gợi đến một giọng nói và cách nói êm ái.
Theo Đức Phật, khi chúng ta dùng lời cộc cằn
để giải quyết xung đột, thì ảo tưởng và sân hận ngự trị tâm ta. Việc nghĩ rằng
sự thô bạo sẽ khiến người nghe dễ hiểu là xuất phát từ ảo tưởng. Sự thật là lời
nói thô lỗ không thể tránh làm cho người nghe trở nên kình chống lại ta. Nhiều
người nghĩ rằng nếu họ có thể làm cho người nghe phải im tiếng bằng những lời
thô bạo, là họ đã thành công trong việc thuyết phục người nghe phải chấp nhận ý
kiến của họ. Một đứa trẻ trở nên lầm lì, không nói sau khi bị cha mẹ rầy la có
thể minh họa cho ý nghĩ sai lầm này. Vì sự thật là sự im lặng của đứa trẻ thể
hiện sự chống đối mãnh liệt và sự thất bại của cha mẹ trong việc thuyết phục
nó. Việc sử dụng lời lẽ thô lỗ có thể làm cho ta hả dạ vô cùng trong phút chốc,
nhưng nó chẳng bao giờ có thể giúp ta giải quyết xung đột.
Tâm lý học hiện đại giải thích rằng sự giận
dữ, một yếu tố mạnh mẽ khác đằng sau lời nói thô lỗ, là cách ta phản ứng đối
với những hoàn cảnh có vẻ đe dọa. Sử dụng những lời giận dữ là một cách để trấn
áp mối đe dọa, chứ không phải để giải quyết mâu thuẫn. Lời nói, giọng nói hay
cách nói một cách giận dữ gợi lên sự tấn công. Ấn tượng rằng người kia đang tấn
công mình bằng lời nói là cảm giác tệ hại nhất mà người nói có thể truyền thông
cho người nghe. Phần đông không thể chịu đựng bị tấn công, họ phải tự bảo vệ và
tấn công trở lại. Sự thô bạo do giận dữ tạo ra ít khi có thể giải quyết được
mâu thuẫn cá nhân.
Một số người có thể nghĩ rằng dùng lời lẽ nhẹ
nhàng chứng tỏ mình yếu đuối, khiến người nghe có thể lấn lướt mình. Có sự hiểu
lầm này là vì sự mềm dẻo, nhẹ nhàng được đánh giá một cách sai lầm là nhút
nhát, thiếu uy quyền. Tuy nhiên, việc sử dụng lời lẽ dịu dàng không có nghĩa
như thế. Đức Phật luôn sử dụng lời nói nhẹ nhàng, nhưng Ngài cũng thấy việc
nhấn mạnh lời nói là cần thiết. Sự tuôn tràn những lời hung bạo là một cực
đoan; sự thiếu quyết liệt trong lời nói là một cực đoan khác. Đức Phật dạy rằng
chúng ta cần tránh cả hai cực đoan này nhưng vẫn sử dụng những lời lẽ nhấn mạnh
để giải quyết xung đột cá nhân một cách hữu hiệu.
Trong kinh Pháp Cú (Dhammapada), Đức Phật nhắc
nhở rằng chúng ta nên tránh buông lời khi nóng giận mà cần nói lời kiềm
chế.[10] Những việc làm như thế tạo một môi trường cởi mở để giải quyết xung
đột luôn xảy ra trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
4:
TẬP TRUNG TRÊN NHỮNG YẾU TỐ TÍCH CỰC CỦA GIẢI PHÁP
Ngài Xá-lợi-phất giải thích rộng hơn rằng
người nói cần tập trung trên khía cạnh tích cực của giải pháp đã được đề ra. Sự
tập trung này có thể mang lại kết quả mỹ mãn trong việc giải quyết xung đột
giữa hai người có mối quan hệ thân thiết. Theo lời ngài Xá-lợi-phất dạy, người
nói cần ghi nhớ trong tâm rằng, “Tôi nói vì lợi ích của người nghe”. Thái độ
này của người nói làm nổi bật hai điểm. Thứ nhất, người nói cần phải có sự hiểu
biết rõ ràng về những hậu quả tích cực của giải pháp. Thứ đến, người nói cần
giải thích cơ bản những ảnh hưởng tích cực của giải pháp với người nghe.
Phương cách giải quyết xung đột mà chỉ có sự
chỉ trích chứ không có phương án giúp đỡ người nghe sẽ không thể giải quyết mâu
thuẫn giữa hai người. Nhiều người có khuynh hướng tìm lỗi của người khác chỉ để
chê bai, chỉ trích. Đức Phật đã nhận định về thói quen tai hại, “Nếu có người
luôn chỉ trích bằng hữu của mình, thì hành động đó không thể hiện một tình bạn
chân thật”[11] Khi người nghe đoán được động cơ của người nói, người nghe lập
tức có khuynh hướng chống báng ý kiến của người nói. Ngược lại, với một phương
án ích lợi có sẵn trong tay, người nói có thể khiến người nghe chăm chú hơn.
Sự rõ ràng của người nói về những hiệu quả
tích cực của giải pháp sẽ thuyết phục người nghe chấp nhận giải pháp được đề ra
hơn. Người nói cần giải thích cho người nghe tại sao vấn đề trước mặt cần phải
được giải quyết, và giải pháp này sẽ đem lại lợi ích cho người nghe như thế
nào. Nhiều người nghe có khuynh hướng hiểu sai sự chỉ trích xây dựng khi người
nói không trình bày rõ ràng mục tiêu của họ. Sự hiểu lầm phát sinh vì người nói
không chỉ ra những hiệu quả tích cực của giải pháp của họ.
5: NÓI VỚI LÒNG
BI MẪN CHÂN THẬT
Cuối cùng, thái độ bi mẫn cần có mặt xuyên
suốt quá trình trao đổi, giao tiếp. Người có ý hướng muốn giải quyết mâu thuẫn
cá nhân một cách tốt đẹp cần có những đề nghị, giải pháp, ý kiến, xuất phát từ
lòng từ bi. Người nói cần lập quyết tâm: “Tôi sẽ nói với tâm từ bi, chứ không
phải tâm sân hận”.[12]
Bốn điều kiện vừa nêu trên đây gồm –thời điểm,
nêu dữ kiện, dùng lời nói nhẹ nhàng, và tập trung trên lợi ích của người nghe-
tất cả đều thuộc phương pháp sử dụng lời nói, là cái ở bên ngoài. Nhưng hành
động từ bi thuộc cảm tính của con người, ở bên trong, và dĩ nhiên là chủ yếu.
Theo các kỷ thuật hùng biện hiện đại, các
chuyên gia có khuynh hướng tập trung chủ yếu trên sự chuyển đối các hành động ở
bên ngoài. Họ khuyên chúng ta nên tỏ ra chuyên nghiệp, hay tuân thủ theo một số
phương cách để làm lay động người nghe. Thí dụ, họ khuyên chúng ta lắng nghe và
nói những câu như, “Rất tiếc được biết tin” khi ai đó chia sẻ một kinh nghiệm
cá nhân buồn. Đức Phật đã đi một bước xa hơn. Ngài muốn chúng ta cũng phải thực
sự cảm nhận điều mình nói.
Các phương pháp dùng lời nói ở bên ngoài để
thuyết phục người nghe tuy cần thiết nhưng có lẽ là chưa đủ để chuyển đổi hành
vi của một cá nhân. Điều nguy hiểm nằm trong khả năng là người nghe có thể cảm
nhận được sự thiếu chân thật nơi người nói. Thông điệp qua ngôn từ “Tôi thương
mến và quan tâm về bạn, đó là lý do tại sao tôi mong bạn sửa đổi”, chứa đựng nhiều
quyền lực để gây ảnh hưởng đối với người khác –nhưng chính thực tại vô ngôn mới
mang nhiều ý nghĩa hơn.
Đôi khi chúng ta cần tự hỏi mình về mục đích
thực sự của ta khi góp ý với với người khác về những hành động chưa hoàn hảo
của họ. Chúng ta thực sự có ý muốn giúp đỡ họ hay có ý đồ gì khác? Thí dụ, tại
sao người chồng hay vợ luôn nhắc nhở người bạn đời của mình về những lỗi lầm họ
đã phạm trong quá khứ? Tại sao chúng ta không ngừng muốn “sửa đổi” ai đó? Những
điều này chúng ta cần phải quán chiếu kỹ càng. Một hành động chỉ có ý nghĩa và
có kết quả khi nó được xuất phát từ lòng từ bi thực sự.
NHỮNG ĐIỀU NGOẠI LỆ ĐỐI
VỚI CÁC NGUYÊN TẮC TRÊN
Cần nhớ là truyền thống Phật giáo đề xuất năm
bước này không phải như là một liều thuốc chữa tất cả mọi mâu thuẫn cá nhân, mà
như là những phương cách để có thể trao đổi, truyền đạt với nhau tốt hơn. Chúng
ta có thể sử dụng chúng để giải quyết phần lớn mâu thuẫn một cách hữu hiệu,
nhưng lúc nào cũng có những ngoại lệ. Khi ngài Xá-lợi-phất xác định lại với Đức
Phật về sự hữu hiệu của quy trình năm bước này, Đức Phật đã nêu lên điều quan
trọng sau đây:
Này Xá-lợi-phất, dầu ông có tuân theo những
phương pháp truyền đạt này, vẫn có người không đồng ý với những lời đề nghị của
ông.[13]
Câu nói trên phản ảnh trí tuệ thâm sâu của Đức
Phật rằng phương pháp năm bước này không thể giải quyết hết tất cả mọi xung đột
cá nhân, do đó, Đức Phật yêu cầu ngài Xá-lợi-phất giải thích tại sao có người
lại quá ương ngạng, và chúng ta phải đối xử với họ như thế nào.
Đáp lại, ngài Xá-lợi-phất công nhận rằng có
một số người nghe luôn phản kháng dầu người nói có những phương pháp truyền đạt
thiện xảo đến đâu; và ngài Xá-lợi-phất cho rằng cá tính đã thành hình lâu ngày
của người nghe là nguyên nhân chính của sự chống đối đó. Đức Phật đã khen ngợi
ngài Xá-lợi-phất và khuyến khích ngài xúc tiến những phương cách đã được đề ra
vì lợi ích của những người thực sự muốn lắng nghe. Nhận định cuối cùng của Đức
Phật trong bản kinh này cho ta thấy rằng những phương cách giao tiếp do ngài
Xá-lợi-phất trình bày sẽ hỗ trợ phần đông chúng ta, nếu không phải là tất cả,
trong việc giải quyết các xung đột một cách êm đẹp.
HƯỚNG DẪN THÊM CHO SỰ
GIAO TIẾP TỐT ĐẸP
Trên đây chúng ta đã tập trung trình bày sự
giải thích của ngài Xá-lợi-phất dựa trên những lời dạy của Đức Phật để cải
thiện khả năng giao tiếp, truyền đạt, và để giải quyết những xung đột cá nhân
một cách tốt đẹp. Riêng Đức Phật cũng ban thêm cho ta những lời khuyên hữu ích
trong lãnh vực này.
1. Kiềm chế không
tranh cãi về những đề tài nhạy cảm
Để giảm thiểu xung đột trong một mối liên hệ,
Đức Phật đã khuyên chúng ta nên kiềm chế không tranh cãi về những đề tài nhạy
cảm. Những đề tài đó bao gồm các khái niệm dựa trên suy đoán, các quan điểm và
niềm tin mà không có sự hỗ trợ của bằng chứng khoa học. Đức Phật nói rõ ràng
rằng việc tranh cãi về những đề tài đó chỉ đem lại sự đối đầu hơn là đồng
thuận.
Cuộc trao đổi giữa Đức Phật với Kassapa, một
người tu khổ hạnh thuộc hệ thống tư tưởng khác biệt, là một minh chứng cho quan
điểm này của Đức Phật. Ngài vẫn duy trì sự giao tiếp thân mật với các vị thầy
thuộc các tôn giáo khác, thường xuyên thăm viếng họ và chuyện trò thân mật với
họ. Trong cuộc trao đổi với Kassapa, Đức Phật đề nghị rằng chỉ nên nói về những
đề tài mà họ có những quan điểm tương đồng, và tránh nói đến những đề tài không
thể đồng thuận.[14] Mục đích của phương pháp này là để giử mối liên hệ lành
mạnh giữa người nói và người nghe.
Khi người khác đưa ra những đề tài nhạy cảm,
đôi khi Đức Phật giữ im lặng thay vì tranh cãi với họ. Sự im lặng, theo Ngài,
có thể tốt hơn là hậu quả tiêu cực có thể xảy ra khi nói. Và đôi khi Đức Phật
không ngần ngại đồng ý với những quan điểm khác biệt. Ngài coi trọng mối quan
hệ hơn là tham gia vào một cuộc tranh luận trên những đề tài thường gây tranh cãi
hoặc siêu hình.
Sự khẳng định này không có nghĩa là Đức Phật
hoàn toàn kiềm chế việc tranh luận, mà Ngài cũng không bắt các đệ tử của mình
không được tranh luận bao giờ. Trong nhiều trường hợp, Đức Phật đã tranh luận
một cách đầy thuyết phục chống lại một số vấn đề xã hội, như là sự kỳ thị. Thí
dụ, chúng ta có thể tìm thấy một số tranh luận hùng hồn nhất của Đức Phật trong
Trường Bộ Kinh I. Phần lớn là những lời kêu gọi đầy lý lẽ hùng hồn để chống lại
với những quan điểm xã hội bất công và tai hại. Về những quan điểm và niềm tin
cá nhân nhạy cảm, Đức Phật cho rằng tranh luận là vô ích và làm xấu đi các mối
quan hệ.
Hiện tại, một số niềm tin và nghi thức tôn
giáo, chính trị, xã hội được xếp vào loại này. Nếu vợ chồng thuộc hai tôn giáo
khác nhau bắt đầu tranh cãi về niềm tin tôn giáo, thì mối liên hệ của họ chắc
chắn sẽ bị sứt mẻ. Tương tự, hai người bạn dè bĩu các hoạt động xã hội của nhau
sẽ dọn đường cho một mối liên hệ căng thẳng, rã tan.
Vì lợi ích của mối quan hệ, Đức Phật khuyên
chúng ta kiềm chế không tranh luận về những chủ đề đó. Ngài dạy rằng dầu sự
tranh luận có lý lẽ có thể cần thiết khi một quan điểm hoặc một hành động có
thể gây ra hậu quả tai hại, nhưng phần đông các niềm tin tôn giáo và nghi thức
xã hội đều lợi ích. Trong trường hợp này, thay vì tranh luận hơn thua, chúng ta
nên bày tỏ lòng tôn trọng chúng.
2. Chấp nhận rằng
có một số hành vi không thể sửa đổi
Để duy trì một mối liên hệ lành mạnh, chúng ta
có thể phải chấp nhận một số chuẩn mực hành động mà ta không ưa thích của những
người thân cận. Đức Phật đã xác định rằng phần đông chúng ta đều có những yếu
điểm bên trong. Ngài nói, “Khó tìm được một người không có bệnh trong tâm”.[15]
Một số những khiếm khuyết này gồm, “không nhìn ra, không chấp nhận hay muốn sửa
đổi hành vi của họ”.[16] Với những người có bản tính như vậy thì nỗ lực của
chúng ta để sửa đổi họ chỉ mang lại sự thất vọng, nản lòng. Đức Phật bảo rằng
một số người sẽ tự nhiên phản ứng trong giận dữ, thù hằn và gây hấn đối với một
đề nghị đầy thiện chí về hành vi của họ”.[17] Trong trường hợp như thế, cách
tốt nhất là thông cảm và chấp nhận rằng một số hành vi của những người thân cận
của ta là không thể sửa đổi, dầu theo lý tưởng thì mỗi cá nhân trong bất cứ mối
liên hệ nào cũng cần sửa đổi hành vi của mình, thay vì ép buộc người khác phải
chấp nhận nó. Một số người có thể có hành vi không thích hợp, nhưng nó không đe
dọa mối quan hệ giao tiếp. Khi đó việc chấp nhận hành vi ấy dường như thực tế
hơn là cố sửa đổi nó.
Đức Phật nhận định rằng sự biết tự sửa mình là
đặc tính của một người trưởng thành. Việc sửa đổi đó cũng làm giảm thiểu những
xung đột không dễ chịu trong một mối liên hệ. Chúng ta có thể thấy khó sửa đổi
người khác theo ý mình muốn, nhưng chúng ta có thể sửa đổi ý nghĩ, và hành động
của mình để phù hợp với hành vi của người. Chúng ta có thể chủ tâm nỗ lực để
kiên nhẫn, và chịu đựng khi đối mặt với hành động nào đó khó chấp nhận –nhưng
không nguy hiểm- của những người thân cận.
Một người chồng ít nói, trong khi vợ anh ta
lúc nào cũng sẵn sàng để phát biểu, là thí dụ của những dạng hành vi đòi hỏi sự
chịu đựng và chấp nhận. Người vợ có thể muốn chồng phải lắng nghe và phản hồi ý
kiến, trong khi người chồng muốn vợ mình ít nói hơn. Tuy nhiên, nếu cả hai đối
tượng đều hiểu bản tính của nhau, thì họ có thể chấp nhận hành vi của người
phối ngẫu, thay vì cố gắng để sửa đổi nó. Không ngừng than phiền về sự vô tâm
hay sự tự biểu hiện của người khác chỉ làm cho mối liên hệ của họ thêm căng
thẳng. Trái lại, kiên nhẫn, chịu đựng, và dần dần chấp nhận, sẽ giúp làm giảm
thiểu những xung đột.
3. Tạo cơ hội cho người sửa đổi
Tha thứ và tin cậy nơi khả năng của con người
là hai đặc trưng quan trọng nhất trong giáo lý của Đức Phật. Chúng ta tạo ra
lầm lỗi. Đôi khi đó là những lỗi lầm nghiêm trọng có thể ảnh hưởng nặng nề đến
mối quan hệ của chúng ta. Đức Phật khuyên đệ tử Ngài tha thứ cho những lỗi lầm
đó và cho người làm lỗi một cơ hội để sửa đổi. Phương cách đó sẽ giúp tạo dựng
nên một mối liên hệ bền chặt hơn.
Lời khuyên này không có nghĩa là chúng ta phải
quên hết mọi hành động sai trái nghiêm trọng của người phối ngẫu, của bạn bè
hay của những người thân cận. Thay vào đó, nó chỉ có nghĩa là không vì lỗi lầm
trong quá khứ của một người mà ta kết luận bản chất người đó là xấu xa, là
người đó không có khả năng để có những mối liên hệ lành mạnh. Chúng ta có thể
học từ lỗi lầm của mình. Chúng ta có khả năng sửa đổi, và chúng ta có thể chế
ngự quá khứ hoen ố của mình để trở thành người tốt hơn.
Có người trong quá khứ lười biếng, sau sửa đổi
và trở nên siêng năng. Họ làm sáng đẹp cuộc đời giống như mặt trăng khi thoát
khỏi đám mây mờ.[18]
Đức Phật đặt nhiều lòng tin vào khả năng tiến
bộ của con người. Và tạo cho người khác cơ hội để cải tiến có thể là một phương
cách sáng suốt nhất để giải quyết bất cứ xung đột cá nhân nào.
Phương cách này có thể thích đáng trong mối
liên hệ mật thiết hơn là các mối liên hệ khác. Nhiều người khi thiết lập một
mối quan hệ đòi hỏi là đối tượng của họ phải chung thủy, nhưng sự kỳ vọng này
không phải lúc nào cũng thành sự thật. Việc đánh mất lòng tin của người khác
không phải là hiếm trong xã hội của chúng ta. Nhiều người khám phá ra đối tượng
của họ yếu đuối trước những cám dỗ tình dục. Và người càng yêu đối tượng của
mình thì càng thấy khổ đau trước khám phá bất ngờ này. Nền văn hóa của chúng ta
khuyến khích ta trừng phạt “kẻ tội lỗi” một cách không thương tiếc. Tuy nhiên,
khi ta để mình ngập tràn trong oán hận, chúng ta không thể tránh một kết thúc
đầy đau khổ trong mối quan hệ này. Một phương cách khéo léo hơn có thể là để
cho người kia thấm thía bản chất của hành động sai trái của họ và cho họ thời
gian để sửa đổi.
Đức Phật giải thích rằng sự quyến rủ của người
khác phái là bản năng tự nhiên mạnh mẽ nhất của con người. “Không có vẻ bề
ngoài, mùi, hương, vị hay sự xúc chạm của thứ gì khác có thể quyến rủ trái tim
của người đàn ông bằng của người phụ nữ”.[19] Người phụ nữ cũng có thể bị người
đàn ông quyến rủ giống như thế,[20] (và dĩ nhiên, chúng ta có thể nói rộng ra
cho những mối quan hệ đồng tính cũng vậy). Trong trường hợp này, người ta hành
động theo sự thúc đẩy của đòi hỏi bản năng, có thể được xem là tự nhiên. Dầu
vậy, con người cần phải phát triển một lối suy nghĩ hiện thực để đối phó với
những khuynh hướng bản năng này. Có cơ hội, họ có thể hiểu được ích lợi của
phương cách hiện thực này đối với những đòi hỏi bản năng của mình. Sự hiểu biết
đó có thể giúp họ sửa đổi những lỗi lầm để cho mối quan hệ mật thiết của họ
không bị đổ vỡ.
Điều quan trọng nhất để tự sửa mình và củng cố
một mối liên hệ là “nhìn một lỗi lầm như nó là, chấp nhận sự sai trái đó, và
quyết không lặp lại lần nữa”.[21] Khi làm được như thế, chúng ta là loại người
được Đức Phật gọi là người đã trưởng thành
4. Chia tay trong
ôn hòa
Như với tất cả mọi thứ khác, ở đây cũng có
những ngoại lệ. Bổn phận và nghĩa vụ, khả năng giao tiếp, và những phương cách
khác nhằm làm giảm thiểu, chứ không phải để tiêu trừ, các xung đột có thể có
mặt trong một mối liên hệ. Dầu đã nỗ lực hết sức, đôi khi người ta cũng phải
chấp nhận là không có giải pháp cho vấn đề của họ. Đức Phật nói gì về những mối
liên hệ không hạnh phúc, và bó buộc này? Đức Phật dạy đệ tử của Ngài đối xử với
những người không còn thân thiết với họ như thế nào?
Đức Phật xác nhận có một số yếu tố đưa đến
việc phải chấm dứt một mối liên hệ: sự tiếp tục hành động sai trái một cách
không kiểm soát của một đối tượng, nguy hiểm phát sinh từ mối liên hệ đó, hay
sự xác nhận tính vô vọng của việc kéo dài mối liên hệ đó. Khi người ta rơi vào
một trong những hoàn cảnh này, Đức Phật chấp nhận sự lựa chọn của cá nhân như
là chuẩn mực tuyệt đối để quyết định. Ngài dạy người đệ tử tại gia rút lui khỏi
một mối liên hệ không tương đồng giống như một vị vua trở về từ đất nước đã
chiến thắng.[22]
Tuy nhiên, sự tự do cá nhân này không ủng hộ
những kết luận vội vã, khắt khe, một chiều; trái lại những sự đánh giá có lý
trí, đạo đức cần phải đi trước bất cứ quyết định cuối cùng nào. Chúng ta cần
chắc chắn rằng quyết định của mình sẽ đem lại lợi ích, chứ không phải ảnh hưởng
một cách bất lợi cho những người liên quan trong cuộc, kể cả bản thân mình. Ai
cũng có quyền chấm dứt một mối liên hệ nếu sự quyết định được dựa trên các
chuẩn mực đó.
Lời khuyên của Đức Phật đối với Upali, một đệ
tử và bạn thân của thủ lãnh đạo Jana Mahavira, là minh chứng cho kết luận này.
Theo yêu cầu của thủ lãnh, Upali đến viếng Đức Phật để đánh bại Ngài trong một
cuộc tranh luận. Tuy nhiên, sau khi lắng nghe Đức Phật, Upali cảm thấy giáo lý
của Đức Phật giá trị hơn của Mahavira và muốn được trở thành đệ tử của Đức
Phật. Đức Phật đã trả lời, “Ông cần đánh giá quyết định của mình cẩn thận hơn;
một người cao quý như ông cần quán xét và đánh giá quyết định này”.[23] Sau khi
Upali đảm bảo với Đức Phật là quyết định của ông đã được suy xét kỹ, Đức Phật
cho phép Upali được rời bỏ Mahavira và trở thành đệ tử của Đức Phật. Sự lựa
chọn có quán xét một cách hợp lý của cá nhân là yếu tố đưa đến quyết định của
Upali.
Đối với mối liên hệ cá nhân cũng cần có sự
đánh giá như thế. Vào thời Đức Phật, nhiều cặp vợ chồng rời bỏ người phối ngẫu
của mình để sống độc cư trong nỗ lực đạt được sự tự thanh tịnh. Đức Phật không
can ngăn việc làm này nếu như sự phát triển bản thân không làm hại gì đến gia
đình, con cái họ. Thí dụ, Đức Phật đã tán thán Ugga, một đại phú gia, vì đã đảm
bảo sự sinh sống và an toàn cho các bà vợ của ông trước khi rời xa họ.[24] Rõ
ràng, Đức Phật không hàm ý là người ta có thể rời xa vợ hay chồng mình để chạy
theo những thú vui khác –nhưng Ngài dạy rằng sự chia tay ôn hòa với một mối
liên hệ không muốn có sẽ tốt hơn là kéo dài nó.
Đức Phật cũng khuyên người ta nên ứng xử như
thế nào với bạn cũ hay người ‘xưa’ sau khi mối liên hệ đã được chấm dứt. Khi
thảo luận với Kesi, người nài ngựa, Đức Phật khẳng định rằng trước hết ta cần
bỏ qua sự oán hận và tư tưởng trả thù đối với bạn cũ dù họ đã tạo ra bao phiền
não trong mối liên hệ trước đó với ta. Kesi bảo với Đức Phật rằng ông ta sẽ
giết hết những con ngựa chứng, không hợp tác khi ông huấn luyện chúng. Đức Phật
khuyên Kesi rằng ông ta cần bỏ sang một bên những người không còn hợp tác hay
không thể thuần hóa.[25]
Giáo lý của Đức Phật không bao giờ khuyến
khích ta theo đuổi sự oán hận hay trả thù dầu ta đã bị người khác lạm dụng hay
làm tổn thương trong mối liên hệ trước đó. Đức Phật dạy rằng ta sẽ không bao
giờ tìm được sự an bình nội tâm nếu ta cứ bám víu vào những hành động sai trái
mà người khác đã làm đối với ta trong quá khứ.[26] Có hành động phù hợp để
chống lại sự bạc đãi luôn được khuyến khích -tuy nhiên theo Đức Phật, ôm ấp mối
hận thù sẽ chỉ làm tăng thêm nỗi bất hạnh đã phát sinh trong một mối liên hệ không
hạnh phúc. Người ta làm cho cuộc sống của mình thêm khổ sở bằng cách nghĩ tưởng
đến những mối liên hệ đã đổ vỡ, nhưng họ có thể tìm được sự hòa thuận, bình an
trong cuộc đời bằng cách tập tha thứ và quên đi.
TÓM TẮT
Đức Phật và vị đại đệ tử của Ngài, Xá-lợi-phất,
đã ban cho hàng đệ tử tại gia những lời hướng dẫn vô giá để giải quyết những
mâu thuẫn cá nhân một cách êm đẹp. Sự cải tiến các khả năng truyền đạt và sự
phát triển các hành vi, thái độ thiện xảo rất cần thiết cho mục đích này. Đức
Phật đã nhấn mạnh rằng phần lớn những vấn đề phát sinh trong các mối liên hệ
mật thiết có thể được giải quyết một cách êm đẹp bằng những phương pháp này.
Tuy nhiên, một số các mối liên hệ có nhiều khả năng thất bại dù người trong
cuộc đã cố gắng đến mức nào. Trong những trường hợp đó, sự chia tay là cách tốt
nhất để tự giải thoát bản thân ra khỏi gánh nặng của xung đột. Ta cần xem sự
chia tay không phải là một cách để trả thù, nhưng là một bước để tự giúp bản
thân và người khác.
[1]
Câu trích từ: Tăng Chi Bộ Kinh V: Phẩm Aghata: Kinh Codana
[2]
Tăng Chi Bộ Kinh V: Phẩm Sona: Kinh Subhasitavaca; Phẩm Agatha: Kinh Codana
[3]
Trung Bộ Kinh I: 17: Kinh Culahatthipadopama; 269-277
[4]
Tương Ưng Bộ Kinh V: Phẩm Raja: Kinh Pathama Cakkanuvattana
[5]
Dhammapadatthakatha: Phẩm Sahassa: Kisagotamiya Vatthu
[6]
Dhammapadatthakatha: Phẩm Sukha:Annatarassa Upasakassa Vatthu
[7]
Dhammapadatthakatha: Phẩm Sahassa : Kisagotamiya Vatthu
[8]
Tăng Chi Bộ Kinh V: Phẩm Aghata: Kinh Codana
[9]
Trung Bộ Kinh II: 58: Kinh Abhayarajakimara, 498-501
[10]
Câu kệ 232
[11]
Kinh Tập: Phẩm Cula: Kinh Hiri
[12]
Tăng Chi Bộ Kinh V: Phẩm Aghata : Kinh Codana
[13]
Như trên
[14]
Trường Bộ Kinh I: 9: Kinh Maha Sihanada; 151-157
[15]
Tăng Chi Bộ Kinh IV: Phẩm Indriya : Kinh Roga
[16]
Tăng Chi Bộ Kinh III: Phẩm Bala : Kinh Accaya
[17]
Tăng Chi Bộ Kinh III: Phẩm Puggala : Kinh Vajiropama
[18]
Trung Bộ Kinh II: 56: Kinh Upali; 477-492
[19]
Tăng Chi Bộ Kinh I: Phẩm Ekaka : 1
[20]
Tăng Chi Bộ Kinh I: Phẩm Ekaka : 2
[21]
Tăng Chi Bộ Kinh III: Phẩm Bala : kinh Accaya
[22]
Kinh Pháp Củ: Kệ số 329
[23]
Trung Bộ Kinh II: 56: Kinh Upali; 477-492
[24]
Tăng Chi Bộ Kinh VIII: Phẩm Gahapati : Kinh Hatthigamaka Ugga
[25]
Tăng Chi Bộ Kinh IV: Phẩm Kesi : Kinh Kesi
Nhận xét
Đăng nhận xét