CHƯƠNG 7
BỔN PHẬN CỦA CHA MẸ
“Đấng Sinh Thành”, là cách ta gọi mẹ cha.
“Người thầy đầu tiên”, “bậc đáng tôn kính”, cũng là những từ ngữ được dùng để
chỉ cho cha mẹ. Những tên gọi này đều đúng khi nói về cha mẹ, vì họ đã sinh
chúng ta ra đời, giúp đỡ chúng ta biết bao nhiêu điều, chăm sóc, nuôi dưỡng, và
dìu dắt ta đi trên con đường đạo đức.[1]
Tăng Chi Bộ Kinh
Người ta thường hỏi Đức Phật về bổn phận làm
cha mẹ. Bậc làm cha mẹ muốn biết các phương cách hữu hiệu nhất để nuôi dạy con
cái, bổn phận làm cha mẹ và cách gìn giữ, duy trì mối liên hệ tốt đẹp với con
cái. Một số người thưa với Đức Phật: “Bạch Thế tôn, chúng con, những cư sĩ tại
gia với đời sống gia đình, kính xin Thế Tôn chỉ cho chúng con phải làm sao để
được ích lợi nhất?” [2] Người khác thì than phiền về những hành động ngỗ
nghịch, thiếu lễ độ của con cái. Họ xin Đức Phật giúp họ cách dạy dỗ con cái
họ, để tái lập lại sự liên hệ tốt đẹp giữa cha mẹ và con cái như trước kia.[3]
Lắng nghe những lời khẩn thiết, cũng như than trách của họ một chăm chú, Đức
Phật sau đó đã cho họ những lời hướng dẫn để giúp họ trở thành những bậc cha mẹ
đáng tôn kính, những bậc cha mẹ thành công trong việc giáo dục con cái.
Yêu Thương, Chăm Sóc
Con Cái
Theo Đức Phật, yêu thương, chăm sóc con cái là
điều kiện tiên quyết để hoàn thành trách nhiệm làm cha mẹ. Tuy nhiên, chỉ nuôi
dưỡng, che chở con cái thôi, chưa đủ để biến người cha hay mẹ đó thành bậc cha
mẹ gương mẫu cho con noi theo. Đó chỉ là những bước cần thiết để tiến trên con
đường chân chánh -một sự thực hành nhất thiết phải có của những con người tự
trọng, đáng tôn kính.
Đức Phật dạy rằng người cư sĩ biết sử dụng tốt
của cải của mình là phải bao gồm việc để dành tiền để tạo dựng hạnh phúc và sự
sung túc cho con cái của họ. Cha mẹ nào không làm điều này được coi là ‘người
ác độc’ (asappurisa)[4]. Những lời dạy này cho ta thấy rằng việc nuôi dưỡng và
chăm sóc con cái là bổn phận tối thiểu của các bậc làm cha mẹ, không phải là lý
do chánh đáng để họ tự coi mình là những bậc cha mẹ hoàn toàn, gương mẫu.
Trong
lời khuyên của Đức Phật đối với Sigala, Ngài đã dạy rằng trong khi bổn phận làm
cha mẹ có nghĩa là phải đáp ứng nhu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng của con cái,
thì để làm tốt hơn vai trò đó, cha mẹ phải quan tâm đến nhiều điều hơn nữa.
Trong kinh Mangala, Ngài cho rằng việc ‘chăm sóc con cái’ (putta sangaha) là
một ‘ân sủng’ trong đời sống cư sĩ[5], đánh dấu cho sự phát triển tương lai của
cả cha mẹ và con cái. Dĩ nhiên, ta phải hiểu là sự chăm sóc này, vượt lên trên
sự chăm sóc, quan tâm về vật chất.
Đối với Đức Phật, nuôi dưỡng một đứa trẻ có
nghĩa là giúp cho đứa trẻ đó trở nên một chúng sinh toàn vẹn. Cha mẹ phải coi
đó là mục đích để giúp con cái họ có được sự tiến bộ nội tâm, có tri kiến, có
khả năng và thành công trong đời. Nỗ lực hoàn thành được những điều này là đã
thực hiện được bổn phận làm cha mẹ một cách viên mãn nhất.
Năm Bổn phận Của Cha Mẹ
Đào sâu thêm về sự liên hệ giữa cha mẹ và con
cái, Đức Phật đã cho rằng cha mẹ có năm nghĩa vụ[6]. Hoàn thành được các nhiệm
vụ này không chỉ giúp cha mẹ thiết lập được mối liên hệ bền vững với con cái,
mà còn khiến cho họ cảm thấy rất tự hào về bản thân.
1. Giúp con cái kiềm chế, tránh xa những hành động bất thiện.
Cha mẹ là ‘những vị thầy đầu đời’ của con cái.
Đức Phật dùng cụm từ papa nivarenti để nói đến bổn phận của cha mẹ là phải can
ngăn con cái khỏi những hành động bất thiện. Papa có nghĩa là bất cứ hành động
bất thiện nào được thể hiện qua lời nói, hành động và ý nghĩ. Nivarenti muốn
nói đến nỗ lực để tránh xa hành động bất thiện này. Giúp con cái tránh xa những
hành động xấu ác là một phần trong việc giáo dục con cái của cha mẹ.
Cha mẹ cần có các biện pháp gì để ngăn ngừa
những hoàn cảnh có thể lôi kéo con cái họ vào các hành động bất thiện? Đức Phật
không tin rằng việc sử dụng một biện pháp mạnh, như trừng phạt, đánh đập sẽ
giúp cho các bậc cha mẹ đạt được mục đích này. Đức Phật đã từng nói, “Tất cả
mọi người đều bị sự trừng phạt đe dọa, ám ảnh”, vì thế Ngài bác bỏ bất cứ hình
thức trừng phạt nào.[7] Chúng ta không thể tìm thấy trong bộ tạng kinh bất cứ
điều gì để chứng tỏ rằng sự trừng phạt là một phương cách hữu hiệu để rèn luyện
nhân cách cho trẻ. Trái với sự suy nghĩ rằng, “không đánh thì con hư”, Đức Phật
từ bi đã đề nghị những phương cách tốt hơn để giúp rèn luyện nhân cách cho trẻ
–những phương cách này sẽ được nói đến sau đây.
Đức Phật không bao giờ khuyến khích việc sử
dụng những lời chửi mắng như là một phương cách hữu hiệu để giúp con trẻ loại
bỏ những hành vi bất thiện. Đức Phật dạy rằng nếu cha mẹ phản ứng một cách giận
dữ trước một điều gì đó, thì chắc chắn là họ sẽ sử dụng những lời nói nặng nề,
xúc phạm.[8] Trong một đoạn kinh, Đức Phật đã nói những lời cộc cằn, thô lỗ,
chỉ có thể đưa đến sự bực tức, khổ đau cho người nói. Dựa trên quan điểm này,
ta thấy rằng việc chửi mắng, thóa mạ cũng giống như việc trừng phạt con cái
bằng cách đánh đập, sẽ không giúp ích gì cho cha mẹ trong việc khuyên bảo con
cái họ tránh xa những hành động bất thiện.
Khuyên nhủ là một phương cách hữu hiệu để giúp
con cái không chạy theo các cách sống tai hại. Nhưng trước hết, chính cha mẹ
phải là những người gương mẫu: “Trước khi giáo huấn ai, phải tự xét lại mình.
Có thế người nói mới không phạm sai lầm”.[9] Muốn cho con cái nghe lời mình,
trước hết cha mẹ phải thực hành những lời dạy của chính mình. Khi chính cha mẹ
cũng kiềm chế không làm những hành động xấu ác, thì họ sẽ dễ dàng thuyết phục
con cái mình tránh xa những điều tương tự.
Giúp trẻ tránh xa những người bạn không có đạo
đức hay xấu ác, theo Đức Phật, là một phương cách khác để giúp con cái tránh
thói quen có những hành động bất thiện.
Những lời khuyên của Đức Phật đối với Sigala
-một đứa trẻ vừa mất cha, và đang ở trong một trạng thái tâm bối rối, phải đối
mặt với bao trở ngại ở phía trước -cho ta thấy rằng Ngài sẽ khuyên các bậc cha
mẹ phải dẫn dắt con cái họ như thế .[10] Đức Phật khuyên Sigala, quan trọng
nhất là không nên giao lưu thân thiết với những kẻ không có đạo đức, vì những
mối liên hệ đó sẽ làm hỏng tương lai của người trai trẻ. Khuyên con tránh xa
người xấu ác, sẽ giúp con không coi thường những hành vi xấu ác.
Tóm lại, theo Đức Phật, có những phương cách
để giúp con cái không trở thành xấu ác, vô đạo đức, là một bổn phận tiên quyết
của các bậc làm cha mẹ. Thay vì giao bổn phận đó cho các thầy cô giáo, hay các
nhà tôn giáo, chính cha mẹ cũng phải cho con cái thấy sự quan tâm của họ và có
bổn phận giúp con cái họ không học theo những thói quen xấu của cá nhân hay xã
hội.
2. Dạy Con Hành
Động Thiện.
Bên cạnh việc có những phương pháp giúp con
cái tránh xa các hành động bất thiện, bổn phận của cha mẹ còn bao gồm cả việc
dẫn dắt con cái hướng đến những hành động thiện. Đức Phật đã dùng thuật ngữ
Pali, kalyane nivesenti, để nói về điều đó. Kalyane có nghĩa là “những hành
động tốt đẹp, dễ thương và đạo đức”. Nivesenti có nghĩa là “thiết lập”, hay “là
nguyên nhân của”.
Hành vi thiện ý chỉ những lời nói, hành động
và ý nghĩ xuất phát từ lòng từ bi, bác ái và trí tuệ. Do đó các yếu tố của hành
vi đạo đức là sự thực hành bố thí (dana), gìn giữ giới luật (sila), và phát triển
tâm trí (bhavana). Đức Phật khuyến khích cha mẹ ươm trồng những tư tưởng và
hành động này cho con cái họ. Với sự tận tâm dạy bảo của cha mẹ, con cái sẽ có
thể có được những đức tính này.
Hơn nữa, cha mẹ phải tuân giữ chánh mạng,
nghĩa là kiếm sống một cách chánh đáng để cho con cái họ có thể chọn lựa một
con đường tương tự. Kế tiếp, họ phải quan tâm đến ai là những người bạn thân
thiết của con họ. Đức Phật luôn nhấn mạnh rằng việc giao tiếp với thiện tri
thức (pandita), sẽ bổ sung thêm cho cá tính của ta; do đó cha mẹ cần phải
thuyết phục con cái họ kết bạn với những người như thế. Lần nữa, Đức Phật nhấn
mạnh đến việc dùng ái ngữ, như là một phương cách hữu hiệu để những người có
trách nhiệm gieo trồng các hành vi thiện cho người khác. Các bậc cha mẹ muốn
giáo huấn, hướng dẫn con đến cái thiện, cũng phải làm như thế.
Tuy nhiên, Đức Phật cũng thấy rằng không phải
lúc nào chúng ta cũng có thể đem lại hạnh phúc tức thì cho người mà ta đang cố
gắng dìu dắt họ hướng đến các hành động thiện. Nhất là các bậc cha mẹ, họ sẽ
cảm thấy khó làm vừa lòng con cái với những lời khuyên nhủ, dạy dỗ chân thành.
Con cái thì thích làm bất cứ điều gì đem lại cho chúng sự thõa mản tức thì hơn
là những ích lợi dài lâu. Chúng có thể cảm thấy rất bực bội khi nghe những lời
cha mẹ khuyên dạy, không giống với những điều chúng muốn làm.
Vào những trường hợp như thế, Đức Phật khuyên
cha mẹ phải cứng rắn bảo vệ những giá trị của lời mình dạy, chứ không nên nuông
chìu con. Khi cha mẹ biết rằng mình đang sử dụng những phương cách chánh đáng
vì sự phát triển nhân cách của con cái, thì họ phải cương quyết đi đến cùng chứ
không thể chùn bước.
Thài tử Abhaya, người đang bồng con trong tay,
hỏi Đức Phật rằng ông có nên dùng những lời lẽ cứng rắn để rèn luyện cách cư xử
của ai đó không.[11] Để trả lời, Đức Phật nói rằng Ngài sẽ chỉ dùng những lời
dịu dàng, vào thời điểm thích hợp. Tuy nhiên Đức Phật cũng nói rằng khi Ngài
biết một phương pháp gì đó là đúng, thì Ngài chẳng bao giờ do dự khi phải thực
hiện nó.
Đức Phật tiếp, “Giả dụ nếu có vật gì đó dính
mắc trong cổ đứa bé, thì người sẽ làm gì?” Thái tử Abhaya trả lời rằng, ông sẽ
lấy nó ra. “Như thế sẽ làm cho đứa bé chảy máu và đau đớn thì sao?”, Đức Phật
hỏi. Thái tử Abhaya thưa rằng ông sẽ không quan tâm, vì điều cần giải quyết
ngay trước mắt là phải cứu sống đứa trẻ. Theo Đức Phật, có những biện pháp,
hành động mà các bậc cha mẹ phải chọn lựa, nếu muốn dẫn dắt con cái họ đi theo
con đường chân chánh, mặc dầu những hành động đó trước mắt có thể không làm con
cái họ vui lòng. Theo giả dụ trên, ta thấy rằng, trong nỗ lực hướng dẫn con cái
đến những hành động thiện, cha mẹ có thể phải sử dụng những lời nói nghiêm
khắc, chứ không phải thô lỗ, cộc cằn, và phải có những biện pháp cứng rắn, mặc
dầu con cái họ không vui lòng nghe theo.
Chính cuộc đời của Đức Phật đã cho chúng ta
một trong những thí dụ hoàn hảo nhất về việc người cha phải làm thế nào để vung
trồng tánh thiện trong tâm hồn một đứa trẻ. Rahula, con trai Đức Phật, mới chỉ
bảy tuổi khi Đức Phật hứa với con rằng sẽ cho con một “món quà tốt đẹp nhất của
một người cha”. Đức Phật đã cho phép Rahula được gia nhập tăng đoàn, và đã hết
lòng dạy dỗ để giúp Rahula phát triển nhân cách toàn vẹn. Trong kinh tạng có
nhiều đoạn cho ta thấy Đức Phật rất quan tâm đến việc Rahula có được những đức tính
thiện và sự phát triển nhân cách không.
Thay vì ra lệnh, Đức Phật thường khiêu gợi trí
phán đoán của con. “Rahula, mục đích của cái gương là để làm gì?”, Đức Phật đã
có lần hỏi đứa con trai nhỏ của mình như thế. “Dạ, để nhìn thấy sự phản chiếu
của mình”, Rahula trả lời. “Cũng thế Rahula, tâm của ta là để phản chiếu hành
động của chúng ta”, Đức Phật tiếp lời. “Con cần phải đánh giá hành động của
mình dựa trên những hậu quả của chúng. Bất cứ điều gì mang đến hậu quả xấu cho
bản thân và cho người khác, thì con nên tránh làm những điều đó. Nếu chúng đem
đến những kết quả tốt, thì con có thể thực hiện chúng”.[12] Đây là một thí dụ
về những phương cách hữu hiệu mà bậc cha mẹ có thể áp dụng để vung trồng phẩm
hạnh trong tâm trí đứa trẻ. Sự dạy dỗ, dìu dắt của Đức Phật quá toàn hảo đến
nỗi Rahula có danh hiệu là “người luôn sẳn sàng học hỏi, tu sửa”.
Bằng lời nói và hành động, Đức Phật đã gửi gắm
thông điệp rằng cha mẹ cần hướng dẫn con cái đến những điều thiện mỹ. Bổn phận
của cha mẹ là khuyến khích con cái họ nói, làm và suy nghĩ những điều thiện. Sự
dạy dỗ, dìu dắt này phải là mục đích chính của cha mẹ, không phải là một vấn đế
phụ thuộc.
3. Giáo Dục Hướng
Nghiệp Cho Con Cái.
Bổn phận kế tiếp của cha mẹ, theo kinh
Sigalovada, là tạo điều kiện để con được giáo dục hướng đến một nghề nghiệp
thích hợp. Nhu cầu này được gọi là sippam sikkhapeti. Sippa có nghĩa là ‘tri
thức và khả năng cần thiết cho một nghề nghiệp’; sikkbapeti có nghĩa là “dạy
dỗ, rèn luyện”. Về điều này, cha mẹ có thể trực tiếp dạy con cái họ, mà cũng có
thể nhờ đến sự giúp đở của những người có khả năng.
Bổn phận này cho ta thấy rằng cha mẹ cần có
những phương cách để làm cho cuộc sống của con cái được tốt hơn, bên cạnh việc
giúp con cái họ phát triển nhân cách. Trong kinh Mangala, Đức Phật đã dạy, “có
tri thức rộng, có kỷ năng, kỷ luật và ái ngữ là những ân sủng”.[13] ‘Kỷ luật’
và ‘ái ngữ’ thuộc về sự phát triển nhân cách; ‘tri thức rộng’ và ‘khả năng’, là
những chuẩn mực trong nghề nghiệp. Con cái cần sự giúp đở của cha mẹ trong cả
hai lãnh vực này.
Cha mẹ trong thời Đức Phật còn tại thế không
có nhiều lựa chọn trong việc chuẩn bị cho con cái họ có một nghề nghiệp. Họ có
thể trực tiếp trao truyền lại cho con cái sự hiểu biết riêng của mình hoặc họ
có thể gửi con cái đến học với những người có khả năng. Các gia đình khá giả
gửi con đến những nơi như là Taxila, thủ đô của Gandhara, nơi có trường đại học
nổi tiếng đầu tiên trên thế giới. Trái lại, ngày nay cha mẹ có nhiều lựa chọn
hơn trong việc giúp đở con cái trong lãnh vực giáo dục. Gửi con cái đi học ở
các trường, theo dõi, và lo giúp đở chi phí học hành, là một số cách cha mẹ làm
để chuẩn bị cho con cái có một nghề nghiệp.
Ba bổn phận của cha mẹ vừa được kể trên cho
thấy rằng mục tiêu của người làm cha mẹ là để hướng dẫn con cái trở nên một
người hoàn thiện. Chuyển hóa nhân cách, tri thức và sự phát triển khả năng, là
những biểu hiện của sự hoàn hảo. Cụ thể hơn, lánh xa những hành động bất thiện,
và học tập những đức tính cao thượng để làm tốt hơn sự phát triển nội tâm của
đứa trẻ. Sau đó đào sâu thêm về tri thức và khả năng giúp cho đứa trẻ trở nên
là một người có khả năng nghề nghiệp. Đức Phật khuyên các bậc cha mẹ phải tự
nguyện nỗ lực hướng con cái đến mục đích đó.
4. Giúp Con Cái
Chọn Bạn Đời.
Trong thời Đức Phật, sự tham gia của cha mẹ
vào việc tìm người phối ngẫu cho con cái mình có vẻ rất thích hợp. Một phần vì
trước đây ở Ấn Độ không có một hệ thống giáo dục cho tất cả, thế hệ trẻ không
có sự lựa chọn người phối ngẫu một cách khôn ngoan. Mặt khác, vì không có những
luật lệ về hôn nhân cố định, nhiều người sau khi lập gia đình thường bỏ nhau mà
không có những bổn phận đối với con cái hay người họ bỏ rơi. Trong hoàn cảnh xã
hội đó, Đức Phật đã khuyên cha mẹ nên giúp con cái họ chọn lựa những người phối
ngẫu thích hợp.
Ngày nay, chúng ta có thể lý luận rằng bổn
phận này của cha mẹ không còn quan trọng, rằng cha mẹ cần phải để cho con cái
tự chọn người bạn đời của mình. Tuy nhiên, sự hướng dẫn của cha mẹ vẫn có thể
là một đóng góp ích lợi cho con cái trong việc chọn lựa bạn đời. Vì không từng
trải, những người trẻ tuổi có thể vội vàng kết luận rằng, vẻ bề ngoài quyển rũ
của một ai đó có thể là tiêu chuẩn duy nhất để chọn lựa làm người phối ngẫu.
Nhưng chẳng lâu sau họ có thể nhận ra rằng họ đã mù quáng như thế nào. Lúc đó
họ mới biết có những yếu tố khác quan trọng hơn, như là cách cư xử, sự trưởng
thành trong tình cảm, do đó họ cần có sự chọn lựa kỹ càng trước khi quyết định
cưới nhau.
Sự hướng dẫn của cha mẹ có thể giúp những
người trẻ tuổi chọn lựa bạn đời một cách khôn ngoan, do đó giảm bớt những xung
đột trong mối liên hệ vợ chồng. Đời sống gia đình của chính các bậc cha mẹ cũng
có thể đã dạy cho con cái của họ những bài học quan trọng. Họ biết rằng sự
trưởng thành trong nhân cách của mỗi thành viên trong gia đình đóng một vai trò
quan trọng trong việc giúp cho mối liên hệ của họ được tốt đẹp. Cha mẹ có thể
truyền cho con cái sự hiểu biết quan trọng này. Không cần phải lựa chọn bạn đời
cho con, nhưng cha mẹ vẫn có thể giúp con hiểu rõ hơn về một sự chọn lựa đúng
đắn.
Hôn nhân là một bước quan trọng nhất trong
cuộc đời của một người bạn trẻ. Sự hướng dẫn của cha mẹ có thể làm phong phú
thêm sự hiểu biết của con cái về việc chọn lựa một người bạn đời thích hợp. Nhờ
thế cha mẹ có lý do để hãnh diện khi họ có thể giúp con cái ở bước ngoặt quan
trọng này –và lời khuyên của Đức Phật dường như vẫn rất thực tế, ngay cả ở thời
đại bây giờ.
5. Trao Của Thừa
Tự Cho Con Đúng Thời Điểm.
Cuối cùng Đức Phật khuyên cha mẹ nên giao lại
tài sản gia đình cho con cái. Dĩ nhiên Đức Phật không bảo cha mẹ phải giao hết
tất cả tài sản gia đình cho con cái họ, để trở thành người vô gia cư vào lúc
cuối đời. Thay vào đó, Đức Phật khuyên họ nên chuyến giao một phần tài sản gia
đình cho con cái ở một thời điểm thích hợp. Hãy quán niệm những lời dạy của Đức
Phật, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn điều này. Đức Phật dùng thuật ngữ dayajjam để chỉ
phần tài sản gia đình mà người con có quyền được hưởng. Dayajjam có nghĩa là
‘một phần tài sản được coi như là món quà của cha mẹ dành cho con cái’. Một từ
ngữ khác samaye có nghĩa là ‘thời điểm thích hợp’.
Đây là điều cuối cùng mà bậc cha mẹ phải làm
để hoàn thành trách nhiệm của mình. Đã là một nguồn hướng dẫn phong phú đối với
sự phát triển nhân cách và sự thành công về vật chất của con cái, cha mẹ giờ có
thể được coi như là đã hoàn thành nghĩa vụ của họ một cách viên mãn. Họ giao
lại tài sản cho con cái với một số lượng thích hợp. Sau khi đã viết xong di
chúc cuối cùng, các bậc cha mẹ có thể sống một cuộc sống thoải mái, tự tại vì
nghĩ rằng. ‘Chúng ta đã làm đầy đủ bổn phận và đã đạt được thành công tốt đẹp
trong vai trò làm cha mẹ của mình’.
TÓM TẮT
Đức Phật đã hướng dẫn các cư sĩ tại gia để họ
có thể trở thành những bậc cha mẹ hạnh phúc và tự tại của những đứa con đầy
nhân cách. Họ đã dạy dỗ để chúng phát triển nhân cách và giáo dục. Họ bổ sung
sự hiểu biết của con cái về hôn nhân và đời sống gia đình. Cuối cùng họ trao
một phần tài sản gia đình cho con cái ở thời điểm thích hợp. Khi nghĩ về sự
thành công của mình trong vai trò làm cha mẹ, người ta có quyền được hảnh diện
vì điều đó. Những nghĩa vụ này góp phần thắt chặt thêm mối liên hệ giữa cha mẹ
và con cái. Đức Phật nhắc nhở con cái cần bày tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ
khi cha mẹ đã hoàn thành nghĩa vụ của họ. Kết quả tích cực này cho ta thấy bổn
phận của người làm cha mẹ có ý nghĩa thật lớn lao.
[1]
Câu trích từ: Tăng Chi Bộ Kinh III: Phẩm Devaduta: Kinh Sabrahmaka
[2]
Tăng Chi Bộ VIII: Phẩm Gotami: Vyagghapajja Sutta
[3]
Tương Ưng Bộ Kinh I: Brahmana Samyutta: Mahasala Sutta
[4]
Tương Ưng Bộ Kinh I: Kosala; 182-183
[5]
Kinh Nipata: Phẩm Culla
[6]
Trường Bộ Kinh III: 31: Sigalovada; 451-469
[7]
Pháp Cú: Câu 129
[8]
Pháp Cú: Câu 133
[9]
Pháp Cú: Câu 158
[10]
Trường Bộ Kinh III:31:Sigalovada, 461-469
[11]
Trung Bộ Kinh II: 58: Abhaya Rajakumara: 498-501
[12]
Trung Bộ Kinh II:61: Ambalatthika Rahulovada; 523-526
Nhận xét
Đăng nhận xét